Con nguyện theo Ngài

  • 13/08/2026
  • Mỗi người là một cá thể riêng biệt, được thể hiện qua một suy nghĩ, một nhân sinh quan riêng, một ước muốn riêng và một hành động khác nhau. Vậy theo nghĩa đó, con người có thể có chung một niềm tin, cùng hướng về một tôn giáo nào đó được hay không? Và chắc hẳn là thế!

    Chúng ta đều được sinh ra, cũng đều hít chung một bầu không khí, uống chung một nguồn nước và đều hướng về phía mặt trời. Vì thế, trong cái tổng thể của vũ trụ, chúng ta vẫn có chung một điều gì đó, mà có thể nói đó là niềm tin. Chính niềm tin đó thôi thúc cái sâu thẳm nhất của lòng người luôn hướng tới vẻ đẹp hoàn thiện. Niềm tin của mỗi người giống như một con sông. Con sông này đổ ra con sông kia. Nhưng cuối cùng, tất cả đều phải đổ về biển cả. Đó là điều phải đạo của lẽ tự nhiên. Và khi niềm tin ấy hình thành nên một sự nối kết của những người có ý thức chung về bản chất và giá trị của những thực tại và của chính bản thân mình, thì ta gọi đó là niềm tin tôn giáo.

    Cũng phải nói thêm rằng niềm tin được hình thành do hoạt động của lý trí, không nhằm mục đích chung là để an ủi hay cải tạo, nhưng là để hướng dẫn và xác định con đường phải đi. Điều đó cũng đồng nghĩa là niềm tin đó không phải là một ước muốn cho một giả định phải được thực hiện, nhưng nền tảng của niềm tin tự nó phải là một chân lý vững chắc. Niềm tin đó có thể cảm nhận được khi người ta đứng trong một mối tương quan với điều mà chúng ta tin. Cũng giống như cách mà ta nhận ra cái đích của cuộc đời mình chính là hướng về sự toàn thiện vậy.

    Tìm đông rồi lại tìm tây
    Tưởng rằng Đạo ở bên này bên kia
    Ngờ đâu đạo vốn chẳng lìa
    Hoát nhiên đại ngộ, ơ kìa... thế thôi.
    (Tìm Đạo - Hòa thượng Viên Minh)

    Tôi là một người Kitô hữu. Tôi không kế về con đường mà mình đã trở thành Kitô hữu thế nào, bởi mỗi người có một cách chọn con đường khác nhau. Tôi muốn nói một chút ít cảm nghiệm về con đường mà mình đã chọn Chúa và theo Chúa như thế nào. Tôi bước trên con đường mà tôi đã không nghĩ mình sẽ bước. Với tôi, đó chính là một ngã rẽ của cuộc đời, ngã rẽ mà làm cho tôi đi lệch với chính con đường mà nhân loại đã đi. Và, trên con đường đi tìm ý nghĩa của cuộc sống ấy, tôi đã chọn cho mình “côi phúc" của đời tu.

    Ngẫm suy về chữ tu

    Xót xa trước cuộc sống trăm bề đau khổ, trong tác phẩm Truyện Kiều, mượn lời nhân vật Kiểu, Nguyễn Du đã phải thốt lên rằng: “Tu là cõi phúc, tình là dây oan.” Nếu đặt mình vào hoàn cảnh của Kiều, cùng đồng cảm với số kiếp long đong của nàng thì tu quả là cõi phúc và tình chắc chắn là dây oan, là nghiệt ngã.

    Thế nhưng, nếu đứng trên bình diện khách quan với hoàn cảnh sống hôm nay thì không hẳn vậy. Nếu tu là cõi phúc sao càng ngày càng ít ỏi thay những con người dám bước vào cõi phúc ấy và đây đó vẫn biết bao lời than thở: “Tu làm gì cho khổ”, “Tu là chôn vùi cuộc đời”, “Tu là bất hiếu”... Và nếu tình là dây oan, là đau khổ, bất hạnh sao người ta chẳng lo tránh né, ngược lại, cứ muốn vấn vít với sợi dây tình ái và sẵn sàng tròng cái dây oan đó vào mình. Đời tu “cõi phúc”, “dây oan” hay khoác lên mình một ý nghĩa nào đó thì cũng đều được quyết định bởi chính do sự tự do, sự trưởng thành trong suy nghĩ và trong cách mà ta phản ứng với hoàn cảnh.

    Cùng một công việc nhưng mọi người có thể có cách làm khác nhau, cùng một hoàn cảnh nhưng mỗi người có thể có thái độ khác nhau, cùng đi trên một con đường nhưng đích đến của mỗi người có thể khác nhau. Sự khác nhau ấy bắt nguồn từ chính sự tự do lựa chọn của mỗi người. Với những người không sẵn sàng để trưởng thành thì đây quả là một viễn cảnh đáng sợ, bởi sự tự do này đòi hỏi rất nhiều ở người thực hiện nó, một trong số đó là trách nhiệm.

    Bởi thế, tôi không cho rằng người đi tu là người bất hiếu theo nghĩa là từ bỏ hay trốn tránh trách nhiệm đối với gia đình. Nhưng với cái nhìn khách quan, điều đó thể hiện một sự lựa chọn khôn ngoan trong các mối tương quan với gia đình và cuộc sống. Bởi lẽ, không ai gọi một người từ bỏ gia đình để đi tìm cái đẹp là bất hiếu; không ai gọi một người từ bỏ gia đình để dấn thân vì đất nước là bất hiếu; không ai gọi một người từ bỏ gia đình để theo cái lý tưởng sống cao đẹp là bất hiếu bao giờ cả. Mọi thứ không dừng lại ở đó nhưng còn phụ thuộc vào cái gì đó cao trọng hơn là trách nhiệm.

    Sự vẹn hảo nhất của đời sống con người được đo lường bằng tình yêu chứ không bằng những gì bạn có. Người ta cũng vì yêu thương nhau mới cưới nhau, vì yêu thương nhau mới chia cơm sẻ bánh cho nhau. Tình yêu đó xuất phát từ chính thẳm sâu trong con người ta chứ không ai có thể cho ta được. Không ai cưới người mình không yêu, cũng không ai đem cái mình có mà ban phát cho người mình không thương... Thế nhưng, với người Kitô hữu, đời tu không chỉ dừng lại ở cái thực tại của con người, hay một sự thể hiện tình cảm, nhưng tình yêu ấy còn thể hiện ở trách nhiệm, sự lựa chọn và cả thái độ khiêm nhường. Đời tu là một hành trình ngược dòng nhân loại để tìm về cội nguồn của tình yêu – nơi mà sự ban phát tình yêu không hề bị hao mòn. Nói cách đơn giản, nếu sự nối tiếp của một dòng họ là một sự thể hiện cho sự nối dài của dòng chảy của sự vĩnh hằng, thì đời tu cũng là dấu chỉ và là hành trình dấn thân để duy trì và tìm về cội nguồn của sự vĩnh hằng.

    Đời tu trong Kitô giáo còn có nghĩa rộng hơn trong một mối tương quan với Đấng Tối Cao, một sự dâng hiến cách trọn vẹn cho Đấng Tối Cao. Mọi thứ đều quy hướng về Chúa trong một mối tương quan khắng khít: với Chúa, cho Chúa và vì Chúa. Và, quả không sai khi nói đời tu là một tiếng gọi. Bởi lẽ, tự thẳm sâu, nó đã trở thành một phương thế để đáp trả ước muốn đi tìm lẽ sống. Và câu hỏi luôn đặt ra trong tôi đó là: Làm sao để bước đi trên con đường đó bây giờ?

    Xin chọn con đường Giêsu

    Dưới nhãn quan Kitô giáo, con đường theo Chúa cũng chính là bước theo con đường mà Chúa Giêsu đã đi. Con đường ấy được gọi cách đơn giản là con đường hẹp. Con đường hẹp không phải vì tự bản chất nó là hẹp không thể đi nhưng là vì đó là con đường mà Chúa Giêsu đã lên Giêrusalem để chịu khổ hình – con đường của sự chấp nhận và từ bỏ. Chúa Giêsu đã dạy những ai bước theo con đường đó rằng: “Ai muốn theo Thấy, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình mà theo" (Mt 16, 24).

    Chúa Giêsu bảo ta, ai muốn theo Ngài thì phải biết vác thập giá, chấp nhận đau khổ mà theo Ngài. Thuở đời nào, theo Chúa lại không được sung sướng mà phải chịu thêm đau khổ? Nhưng không, như Chúa đã chịu đau khổ, cái chết để rồi vinh quang Phục sinh, thi Ngài luôn muốn chúng ta vượt qua thử thách, đau khổ để hoàn thiện

    chính mình hơn. Và để làm được điều đó và để thập giá trở nên nhẹ nhàng, chúng ta phải biết từ bỏ chính mình. Sở dĩ nhiều người trong chúng ta vẫn còn sống trong đau khổ, mệt mỏi, chán nản và thất vọng là bởi vì chúng ta “buông không dứt”, nghĩa là chưa “từ bỏ” được. Sao anh đứng núi này mà trông núi nọ? Sao anh có vợ rồi, lại nghĩ đến người phụ nữ khác? Sao anh có ý định đi tu, lại vương vấn chuyện lập gia đình? Nhiều câu hỏi thật khó trả lời, có thể nó rất quan trọng với ta, nhưng chúng ta cần phải có thái độ dứt khoát với nó. Cũng ví như một người bị đau ruột thừa, ruột thừa có thể là từ một phần thân thể của anh, nhưng nếu anh không dứt khoát mà bỏ nó thì anh sẽ phải đau đớn dài dài.

    Nhưng có một điểu, “từ bỏ” ở đây không có nghĩa là bắt mình phải thay đổi mọi thứ, không ai bắt mình phải từ bỏ cái tôi của mình, để rồi trở thành một con người hoàn toàn khác, để rồi có khi lại phải đối mặt nhau trong sự giả dối. Đừng để mình phải sống trong một vòng lẩn quẩn của đau khổ đó là dối mình, dối người, và sau đó lại bị người dối lại. Nhưng, “từ bỏ” ở đây đơn giản là biết dứt khoát với mọi thứ và nhận thức được mình chính là loài thọ tạo trước mặt Thiên Chúa, phải biết đặt mình trước Ngài và lấy Ngài là trung tâm của mọi việc, cũng có khi ta phải “mất mạng sống mình vì Thầy" (Mt 16, 25).

    Không dừng lại ở đó, con đường hẹp đó là con đường về quê trời vĩnh phúc, thế nhưng, điều bắt buộc là phải về quê trời với tha nhân. Con đường hẹp bây giờ là con đường vừa song song lại vừa bắc cầu với nhân loại tạo nên một mối tương quan hữu thể giữa mọi người với nhau. Hay cũng có thể ví hành trình đó như là hành trình của một con sông. Con sông này đổ ra con sông kia, nhưng cuối cùng tất cả cũng đổ về biển cả. Vì vậy, tỉnh thần hy sinh và phục vụ cũng là một điều cần thiết hơn hết. Đó là những hành trang cơ bản ta cần có để chuẩn bị cho cuộc hành trình tương lai. Đời tu, cũng giống như bao con đường khác, có rất nhiều khó khăn và bó buộc để đời tu trở nên là một con đường hoàn hảo. Thế nhưng, không cần phải có quá nhiều kết luận: tu là phải thế này, thế nọ hay thế kia. Và hơn thế nữa, nếu chỉ nhìn đời tu bằng con mắt thực tại thì con người ta dễ bị sa phải thói đời. Đời tu phải là một sự chìm sâu và tỉnh thức trong cầu nguyện để có thể gặp gỡ và sống thân tình với Đấng mà ta đang dấn thân bước theo...

    Lên đường

    Có một con đường trên lối bước tôi đi. Và thật khó có thể có một từ nào diễn tả hết được ý nghĩa của con đường ấy. Bởi mỗi người có một suy nghĩ, một cảm nhận, một thái độ, một nhân sinh quan và một sự tự do riêng để quyết định cho ý nghĩa của nó. Và trên con đường đi tìm ý nghĩa của cuộc sống, tôi đã chọn cho mình con đường Giêsu, một con đường hạnh phúc thật của cuộc đời. Một chặng đường mới, một bước ngoặt mới sẽ không khỏi khiến ta phải ngỡ ngàng. Nhưng ta biết rằng, trên con đường đó vẫn còn đâu đó quanh đây dấu chân của người lữ khách đang dõi bước cùng ta.

    Cuối cùng, tôi không chủ ý nói nhiều đến đời tu hay một sự cảm nghiệm về đời tu, và những điều tôi nói trên đây cũng chỉ là một kinh nghiệm khởi đầu, một nền tảng cho sự chọn lựa ấy. Nhưng, trước hết hãy nói về cuộc đời, vì phần nào ý nghĩa đời tu cũng được tạo nên từ những suy tư về cuộc đời. Xin kết thúc bằng những dòng tâm sự mà tôi đã trải lòng:

    Dã tràng xe cát biển đông
    Còn ta lần quẩn bên hông cuộc đời.
    Lao công xây một góc trời
    Bây giờ ngơ ngác giữa đời cô liêu.

    Mơ hồng trên đỉnh phù vân
    Tiền tài bạc khắp cho dâng đầy tràn.
    Nhưng rồi sa phải thói đời
    Lộc lừa, gian dối biết đời đục trong.

    Mơ hồng trên đỉnh phù vân
    Đề cao danh vọng, cao thân uy quyền.
    Phồn hoa trót bước chân vào
    Xa đàng nhân đức, chốn nào yên thân.

    Mơ hồng trên đỉnh phù vân
    Đào hoa một kiếp, phong vân tình trường.
    Thú vui say đắm xác trần
    Bùn nhơ quá nửa linh hồn ai

    Mơ chỉ những giấc mơ hồng
    Đỉnh phù vân ấy có vui bao giờ.
    Ngước lên trông tới mây trời
    Ở nơi xa đó ma hồng thiên thu.

    Cuộc đời thử gầm mà suy
    Bao nhiêu công sức hư không trở về.
    Xin cho tôi khúc kinh cầu
    Để tôi không phải sống mình riêng tôi…

    Giữa cuộc sống thăng trầm, người ta luôn bị cuốn hút trong dòng đời chảy xiết. Vội vã, vội vã, vội vã... Và rồi, khi màn đêm đã buông xuống, ta bắt đầu suy tư trầm mặc, với cuộc sống bon chen bộn bề, với những nỗi buồn ở tận nơi sâu thẳm mà chẳng biết than thở cùng ai. Ta thấy mình cô đơn, ta một mình và bước chân ta chùn lại. Ta thấy sao cuộc đời này rộng quá, chỉ một mình ta sao có đủ sức để đi tiếp? Ta phiền não, bất lực và bất an trước cuộc sống. Những lúc như vậy, ta cũng cần lắm những giây phút để giữ mình được thinh lặng. Thinh lặng để có thể giữ cho tẩm hồn được bình tĩnh, được thanh tịnh. Trở về với thinh lặng chính là lúc ta trở về với chính mình và tìm được ý nghĩa mà cuộc sống mang lại cho ta. Vậy cái thinh lặng ấy thực sự là gì?

    Có người cho rằng thinh lặng dường như không có liên quan gì đến mình. Thậm chí họ nghĩ mình chưa bao giờ thinh lặng cả vì họ luôn hoạt động, họ luôn phải làm việc và học tập. Nhưng thực chất, thinh lặng lại là một phần trong bản chất của con người. Một chấm, một phẩy của cuộc đời luôn cho ta khoảng thời gian để thinh lặng.

    Tự bản chất, thinh lặng không cần gì để hiện hữu, vì tự nó đã thực sự hiện hữu rồi. Thế nhưng, khó có thể tìm được một khái niệm nào để diễn tả cách đầy đủ nhất về bản chất của thinh lặng. Trong một cách hiểu đơn thuần, thinh lặng là sự vắng bóng của những tiếng ồn và những tỉnh huống. Tiếng động cơ ồn ào của xe máy, tiếng réo liên hồi của chiếc điện thoại, tiếng nói chuyện xôn xao... phải được đưa ra khỏi cái không gian của thực tại.

    Ấy thế, sự thinh lặng không phải chỉ dừng lại ở cái không gian tĩnh mịch như vậy. Nhưng nó còn hướng đến sự sâu xa trong nội tâm con người. Đúng vậy, chúng ta chỉ thật sự đạt được thinh lặng khi tâm trí chúng ta hoàn toàn trống rỗng, nghĩa là nó phải thoát khỏi những âm thanh và hình ảnh của những thực tại trần thế. Cái không gian thinh lặng bên ngoài chỉ như là một cách thế để chúng ta đạt được sự thinh lặng trong tâm hồn.

    Lại nữa, sự thinh lặng của người thượng trí thì không ở trong trạng thái lơ lửng vô tận nhưng hướng đến cội nguồn của tạo tác. Và khi sự thinh lặng làm cho ta tỉnh thức khỏi những suy tư trong mình, thì chính là lúc ta chạm đến cái bản ngã thực sự của chính mình. Trong cái bản ngã ấy, ta có cơ hội chiêm ngắm được bản chất thánh thiện nguyên thủy mà Tạo Hóa đã ban cho. Và theo đó, ta cũng được chiêm ngắm hình ảnh của Đấng Tạo Hóa nơi sinh khí của loài thụ tạo. Khi đó, sự thinh lặng sẽ mang cho ta cảm giác hài lòng như cách mà Tạo hóa đã hài lòng khi tác sinh vũ trụ. Thinh lặng, đó còn là một sự nhắc nhớ để ta nhận biết bản chất thật sự của mình và nhận biết mình là ai trong thế giới này. Người ta sẽ phần nào cảm nghiệm được ý nghĩa mà cuộc đời mang lại và chạm được sự bình an đích thực mà con người vẫn luôn khao khát tìm kiếm. Hơn nữa, khi một cảm lực vô hình chạm đến và khỏa lấp sự thiếu vắng trong tâm hồn, thì trong cái thinh lặng ấy, ta như bị bao bọc bởi cái vỡ òa khó tả, ta như chìm đắm trong một niềm hạnh phúc khôn thấu mà không thể có giữa đời sống thực tại. Đó chính là cái đụng chạm tâm linh của Đấng Tạo Hóa.

    Thinh lặng còn trở nên như một khí cụ, một sức mạnh vô hình để gắn kết con người với tỉnh yêu, tự do, và cả chân lý ngay trong thực tại trần gian với cái không gian vô tận trong chúng. Và khi chạm đến cái đích cuối cùng của cuộc đời đó là sự chết, cũng là lúc mà ta đạt được sự thinh lặng hoàn toàn trong tâm hồn. Bởi lẽ khi đó, tâm hồn không còn phụ thuộc vào các hoạt động giác quan nữa. Ta không biết cái viễn cảnh sau khi chết sẽ như thế nào. Nhưng ta tin chắc rằng, chính hoạt động của lý trí khi còn sống sẽ dẫn chúng ta vào một không gian chiêm ngắm tuyệt đối của cái đẹp khi chúng ta bước qua ngưỡng cửa của sự chết.

    Thực tế cho thấy rằng người ta thường khó có thể đối diện với thinh lặng. Khi ngồi trong không gian yên lặng, người ta thường với tay tìm cho mình một cái gì đó như quyển sách để đọc, hay nhẩm đi nhẩm lại những lời kinh mà mình đã thuộc nằm lòng. Thế đó, sự thinh lặng hay đơn giản là ngồi yên một mình không làm gì hết thường làm cho người ta cảm thấy khó chịu. Ta đang chìm trong không gian của sự thinh lặng chứ chưa thực sự đi vào sự thinh lặng. Một lý do đơn giản bởi vì chúng ta sợ. Đó không phải là nỗi sợ thinh lặng hay sợ bóng tối, nhưng chúng ta sợ sự cô độc tiềm tàng trong thinh lặng. Bởi lẽ, trong tận cõi sâu xa nhất của tâm hồn, vẫn còn đâu đó một nỗi đau mơ hồ khôn nguôi, một sự thiếu vắng khó mà lấp đầy, một cảm giác khiến người ta không hài lòng với thực tại. Vì thế người ta thường cố gắng tìm kiếm cho mình một điểm tựa nào đó để lấp đầy khoảng trống đó. Như thế là ta vẫn chỉ đang lừa dối cảm giác của chính mình. Sự thánh thiện nguyên thủy trong bản thể của chúng ta bị che khuất bởi một tâm trí u mê không biết vận động theo lẽ phải.

    Lại nữa, trong con người, luôn tồn tại một thói quen suy tư mông lung mà ta không thể nào gạt bỏ được. Ta hay để cho suy nghĩ của mình bay cao, bay xa hơn với những chuyện không hề liên quan gì đến mình. Điều đó nằm ngoài ý thức và vô thức. Bởi lẽ, không gian của thinh lặng luôn chứa đựng những mâu thuẫn và chọn lựa, nơi mà tư tưởng và suy tư được thăng tiến. Suy tư cần khoảng không của thinh lặng để nhận thức và phát sinh tri thức. Điều đó thì tốt, vì không gian thinh lặng đó có thể trở thành bệ phóng cho trí thức, nhưng quá trình nhận thức như vậy không phải là cái đích mà ta cần đạt được.

    Thinh lặng tuyệt đối không phải để suy từ mông lung, nhưng phải biết buông bỏ những chống đối mâu thuẫn trong tâm hồn, chấp nhận bản chất thực sự của tạo vật như chúng vẫn là. Đó cũng là cách để chấp nhận những hữu thể xung quanh mình. Bây giờ, tâm trí ta sẽ như cái không gian của vũ trụ bao la hoàn toàn trống rỗng. Khi nào linh hồn đồng hóa với cái không gian ấy thì ta mới chạm đến được dòng chảy của sự vĩnh hằng. Vậy chúng ta cần làm gì để thinh lặng? Đơn giản, hãy tìm một nơi thật yên tĩnh, ngồi trong một tư thế ngay ngắn và thoải mái nhất có thể, và sau đó nhắm mắt lại và hòa theo nhịp thở của mình. Và nếu muốn, chúng ta có thể niệm thêm câu“Maranatha” một cách nhẹ nhàng và đều đặn theo nhịp thở mà không cần phải để tâm đến ý nghĩa của nó. Nhưng điều cần thiết hơn hết là hãy loại ra khỏi chính mình tất cả những âm thanh ồn ào của tư tưởng.

    Tập nhìn, tập nghe sẽ giữ lòng được lắng yên, và buông thả hết mọi ý niệm. Điều khiển giác quan chính là cách tốt nhất để đạt được sự thinh lặng. Hãy nhìn xem thiên nhiên dạy ta thế nào là thinh lặng. Xem ra rất dễ nhưng lại rất khó. Bởi nó phải là một quá trình rèn luyện lâu dài chứ không thể làm được trong một ngày một bữa. Sự thinh lặng không làm cho con người thụ động, nhưng trái lại, con người cần phải chủ động cách Ý thức bằng cách đặt mình dưới sự buộc để có được sự thinh lặng. Cuộc sống ồn ào và tấp nập quá! Bận rộn thật đấy. ... Giật mình! Ta lại trở về với nhịp sống nhanh mạnh, lại tiếp tục đua chen giữa cái dòng đời xô bổ. Đôi lúc trong một bản nhạc sôi động lại có khoảng lặng để đọng lại chút dư âm cho người nghe. Trong cuộc sống cũng vậy, đôi lúc cũng cần đến những phút thinh lặng để giúp người ta nhận ra nhiều điều mà bình thường không thể nào thấy được. Có ngẫm thì mới thấm, có hiểu thì mới vương. Chính giây phút đó sẽ khơi dậy trong tâm hồn mình những gì tinh túy, thanh thản và bình yên nhất để ngắm nhìn cuộc sống và phó thác mọi sự trong tay của Đấng yêu thương.

    Đức Hữu

    Bài viết liên quan