Tác phẩm cuối cùng của thánh Tôma Aquinô được gửi đến viện phụ Đan viện Monte Cassino không lâu trước khi ngài qua đời († ngày 7 tháng 3 năm 1274). Được trình bày theo lối tranh luận kinh viện với công thức Sic et non (Có và Không), tác phẩm này cho thấy rằng, mặc dù đã trải qua cuộc xuất thần tại Napoli vào ngày 6 tháng 12 năm 1273 – biến cố mà truyền thống kể lại đã khiến ngài không tiếp tục hoàn thành bộ Tổng luận Thần học (Summa Theologiae) vì mọi trước tác của mình lúc ấy chỉ còn như “rơm rạ” so với điều Thiên Chúa đã mặc khải – nhưng thánh nhân vẫn hoàn toàn giữ được sự minh mẫn và chiều sâu của tư duy thần học. Cả những gì ngài đã viết lẫn những điều ngài đã được chiêm ngắm đều quy hướng về chính “Chân Lý” là Đức Kitô (x. Ga 14,6)[1]. Mọi chân lý đều phát xuất từ Thiên Chúa, và mọi điều chân thật đều quy hướng về Đấng mà Đức Maria đã cưu mang trong lòng mình.
Lòng sùng kính Đức Maria từ thuở thiếu thời
Liệu đây chỉ là một giai thoại đạo đức hay là dấu chỉ của một ân huệ đặc biệt? Truyền thống kể rằng, tại lâu đài của gia tộc Aquinô ở Roccasecca, phía đông nam thành Roma, người ta bắt gặp cậu bé Tôma nắm chặt trong tay một vật bí mật. Khi mở bàn tay cậu ra, người ta đọc được hàng chữ Ave Maria – “Kính mừng Maria”, mặc dù lúc ấy cậu vẫn chưa biết đọc biết viết. Về sau, trong phần chú giải Tin Mừng Matthêu[2], khi giải thích tên gọi Maria, thánh Tôma diễn giải danh xưng này là Maris Stella (Ngôi Sao Biển) hoặc Illuminatrix (Đấng soi sáng) - mang ý nghĩa phản chiếu ánh sáng từ mặt trời là Chúa Kitô để soi lối cho nhân loại. Nếu truyền thống này phản ánh một sự kiện có thật, thì quả thực ‘Ngôi Sao Biển’ đã trở thành ngọn hải đăng thiêng liêng, dẫn lối cho vị Tiến sĩ Hội Thánh suốt chặng đường khám phá và đi sâu vào mầu nhiệm Thiên Chúa.
Trong khoảng thời gian từ 5 đến 14 tuổi, khi được các đan sĩ Biển Đức giáo dục tại Đan viện Monte Cassino, thánh Tôma đã sớm hình thành một lòng sùng kính sâu xa đối với Đức Trinh Nữ Maria. Chính tại đây, ngài khám phá giá trị nền tảng của đức khiêm nhường mà sau này ngài xem là một trong những vẻ đẹp cao quý nhất của đời sống Kitô hữu khi khẳng định rằng : “Không có gì đáng ngưỡng mộ hơn một tâm hồn khiêm nhường.[3]”
Khi khảo sát gia phả của Đức Maria, thánh Tôma cho rằng việc bà Êlisabét – chị họ của Đức Maria – là vợ của tư tế Dacaria phục vụ trong Đền Thờ Giêrusalem thuộc dòng dõi Aharon cho phép suy luận rằng Đức Maria cũng có liên hệ huyết thống với dòng tư tế này[4]. Tuy nhiên, vì kết hôn với thánh Giuse thuộc chi tộc Giuđa (Hr 7,14), và chính Đức Maria cũng xuất thân từ chi tộc này[5], nên nơi Mẹ quy tụ cả truyền thống vương quyền lẫn truyền thống tư tế của dân Israel.
Vị trí phụ thuộc nhưng cao quý của Đức Maria
Trong toàn bộ các trước tác và bài giảng của mình, thánh Tôma luôn dành cho Đức Maria một vị trí đặc biệt cao quý, nhưng tuyệt đối quy hướng và lệ thuộc vào Đức Kitô. Theo ngài, sau sự thánh thiện tuyệt đối của Đức Kitô, không có sự tinh tuyền nào có thể sánh được với sự thanh sạch của Đức Maria[6].
Có lẽ bản văn đẹp nhất mà thánh Tôma dành để ca ngợi Đức Trinh Nữ chính là bài giảng tại Napoli vào mùa xuân năm 1273 về lời chào của sứ thần Gabriel (Lc 1,28). Trong phần kết của bài giảng ấy, ngài một lần nữa nhấn mạnh vị thế hoàn toàn quy hướng của Đức Maria đối với Đức Kitô: “Vì thế, Đức Trinh Nữ Maria thật diễm phúc; tuy nhiên, hoa trái lòng Mẹ còn diễm phúc hơn nhiều.” Tuy luôn quy hướng mọi vinh quang của Đức Maria về Đức Kitô, thánh Tôma vẫn đặc biệt đề cao phẩm giá của Đức Maria. Theo thánh nhân, vì là Mẹ Thiên Chúa, Đức Maria được nâng lên một phẩm giá gần như vô hạn (quasi infinita dignitas), bởi phẩm giá ấy phát xuất từ chính Thiên Chúa vô hạn mà Mẹ đã cưu mang trong cung lòng mình[7].
Thánh Tôma cũng khẳng định rằng Đức Maria đã thụ thai đồng trinh, sinh hạ Đức Kitô mà vẫn bảo toàn trọn vẹn đức đồng trinh, đồng thời không phải chịu những đau đớn của việc sinh nở như hậu quả của tội nguyên tổ[8]. Điều đáng chú ý là, mặc dù giáo huấn này rất gần với lời ngôn sứ Isaia (66,7) về người phụ nữ sinh con trước khi chuyển dạ: “Trước khi chuyển dạ, nó đã sinh con; trước khi cơn đau, nó đã cho con trai chào đời”, nhưng chính thánh Tôma lại không trực tiếp viện dẫn bản văn Kinh Thánh này.
Bên cạnh lối giải thích quy chiếu về Hội Thánh, truyền thống Kitô giáo còn nhìn nhận người Phụ Nữ trong sách Khải Huyền 12, 1 như một hình ảnh diễn tả Đức Trinh Nữ Maria: “Một điềm lạ vĩ đại xuất hiện trên trời: một người Phụ Nữ mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao.” Trong các tác phẩm của các Giáo phụ, mặt trời thường tượng trưng cho Đức Kitô, còn mặt trăng biểu tượng cho Hội Thánh đang tiến bước trong lịch sử với những chu kỳ tăng trưởng và biến đổi. Tiếp nối truyền thống giải thích theo lối biểu trưng và loại hình (typologia), thánh Tôma nhận định rằng lễ Trăng Non của Cựu Ước được thay thế bằng việc kính nhớ Đức Trinh Nữ Maria, nơi Đấng mà nhờ sự viên mãn ân sủng, ánh sáng của “Mặt Trời Công Chính” là Đức Kitô lần đầu tiên chiếu tỏa trên nhân loại[9]. Ở một bản văn khác, thánh Tôma còn gọi Đức Maria là “Nhà tạm của Thiên Chúa” được Thiên Chúa thánh hóa cả thân xác lẫn tâm hồn để chuẩn bị cưu mang Chúa Kitô[10].
Sự tràn đầy ân sủng
Thánh Tôma Aquinô, trong bản Chú giải kinh Kính Mừng, xem xét sự đầy tràn ân sủng của Đức Trinh nữ Diễm[11] phúc dưới ba phương diện, ứng với ba sự hoàn thiện của ân sủng được trình bày trong Tổng luận Thần học, IIIa, q. 27, a. 5.
Trước hết, linh hồn Đức thánh Trinh nữ được tràn đầy ân sủng. Thiên Chúa ban ân sủng vì hai lý do: để làm điều thiện và tránh điều ác. Xét theo cả hai khía cạnh này, Đức Trinh nữ đã được hưởng ân sủng một cách tròn đầy nhất. Người đã tránh xa tội lỗi hơn tất cả mọi thánh nhân, chỉ sau Chúa Kitô. Tội lỗi gồm tội nguyên tổ và tội cá nhân trọng hay nhẹ. Thật vậy, Đức Trinh nữ đã được gìn giữ khỏi tội nguyên tổ ngay từ giây phút đầu tiên khi được thụ thai trong lòng thân mẫu. Người cũng được khỏi mọi tội trọng và tội nhẹ. Vì thế, Sách Diễm ca (4, 7) đã viết : “Bạn ta ơi, bạn thật xinh đẹp, nơi bạn chẳng một chút vết nhơ.” Thánh Augustinô viết trong tác phẩm về Tự nhiên và ân sủng : “Ngoại trừ Đức Trinh nữ Rất Thánh, tất cả các thánh nam và thánh nữ, trong suốt cuộc đời trần thế của các ngài, nếu ai đó hỏi : “Các ngài có vô tội không?”, tất cả đều đồng thanh đáp rằng : “Nếu chúng tôi nói rằng chúng tôi không có tội, thì chúng tôi tự lừa dối mình và sự thật không ở trong chúng tôi.” (1 Ga 1, 8). Còn Đức thánh Trinh nữ là một ngoại lệ. Vì danh dự của Thiên Chúa, khi nói đến tội lỗi, tôi không bao giờ muốn đặt vấn đề nơi Mẹ. Chúng ta biết rõ rằng Mẹ đã được ban ân sủng dồi dào nhất để chiến thắng hoàn toàn tội lỗi. Mẹ xứng đáng thụ thai và cưu mang Đấng tuyệt đối vô nhiễm mọi tội nhơ.”
Tuy nhiên, Chúa Kitô vẫn vượt trội hơn Đức Trinh nữ diễm phúc. Chắc chắn cả hai đều được thụ thai và sinh ra không mắc tội nguyên tổ. Nhưng Đức Maria, khác với Chúa Giêsu, về mặt luật lệ vẫn phải chịu tội lỗi đó. Nếu thực sự Người đã được thoát hỏi hoàn toàn mọi tội lỗi, thì đó là nhờ ân sủng và đặc ân riêng biệt của Thiên Chúa Toàn năng, và nhờ công nghiệp của chính Con của Người, là Đức Giêsu Kitô, Đấng Cứu độ nhân loại.
Đức Trinh nữ cũng đã thực hành mọi nhân đức. Các thánh khác chỉ nổi bật trong một vài nhân đức: vị này về khiêm nhường, vị kia về khiết tịnh, vị khác về lòng nhân hậu. Vì thế, họ được nêu lên như là mẫu gương của từng nhân đức đặc thù. Chẳng hạn, thánh Nicôla như là mẫu gương của lòng xót thương. Còn Đức Trinh nữ diễm phúc là mẫu gương và chuẩn mực cho mọi nhân đức. Nơi Người, chúng ta tìm thấy mẫu gương khiêm nhường qua những lời thưa (Lc 1,38) : “Này đây, tôi là tôi tớ của Thiên Chúa”; “Phận nữ tỳ hèn mọn, Người đoái thương nhìn tới.” (Lc 1,48). Người cũng là mẫu gương khiết tịnh như Người thừa nhận rằng tôi không biết đến người đàn ông (x. Lc 1,34). Thật dễ nhận ra Người đã nêu gương sáng cho mọi nhân đức. Như vậy, Đức Trinh nữ diễm phúc thật sự đầy ân sủng để làm điều thiện và tránh điều dữ.
Thứ hai, sự viên mãn ân sủng của Đức Maria còn thể hiện qua việc ân sủng tuôn tràn từ linh hồn ra cả thân thể của Người. Được Thiên Chúa ban ân sủng để nên thánh trong linh hồn là một hồng ân cao cả cho các thánh. Nhưng linh hồn Đức Trinh nữ Maria lại được tràn đầy ân sủng đến nỗi tuôn trào ra cả thân thể, nơi mà Người đã cưu mang Con Thiên Chúa. Hugues saint - Victor diễn tả rằng “Bởi vì tình yêu của Chúa Thánh Thần đã bừng cháy nồng nàn trong tâm hồn Đức Trinh nữ, nên đã tạo ra những kỳ công vĩ đại nơi thân xác của Người đến nỗi Người đã sinh ra Con người Thiên Chúa, đúng như lời Thiên sứ đã loan báo cho Đức Trinh nữ rằng: “Một Hài nhi mà Bà sinh ra sẽ là Đấng Thánh và sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1,35).
Thứ ba, Đức Trinh nữ diễm Phúc đầy tràn ân sủng đến mức làm lan tỏa sự viên mãn ấy cho toàn thể mọi người. Mỗi một vị thánh nhận được đầy đủ ân sủng để đem ơn cứu độ cho nhiều người là một đặc ân lớn lao. Nhưng nếu một vị thánh được ban ân sủng đến mức có thể mang ơn cứu độ cho toàn thể nhân loại, thì chắc chắn vị ấy đã được hưởng một ân sủng dư tràn vô song. Sự viên mãn ấy chỉ có nơi Chúa Kitô và Đức Trinh nữ diễm phúc.
Thực vậy, trong mọi cơn nguy khốn, người ta đều có thể tìm được sự giải thoát nhờ Đức Trinh nữ vinh hiển này. Bởi thế, sách Diễm ca (4,4) đã tán tụng rằng: “Cổ nàng đẹp như tháp ngà Đa-vít xây lên để trưng bày chiến lợi phẩm: nơi đó treo ngàn vạn mộc khiên toàn là của anh hùng dũng sĩ.” Điều này có nghĩa là nơi Người có ngàn phương thế để cứu chúng ta khỏi muôn vàn hiểm nguy. Trong việc thực hiện mọi nhân đức, chúng ta cũng có thể nhận được sự trợ giúp của Người. Sách Huấn ca diễn tả: “Các ngươi có thể thấy nơi Ta tất cả niềm hy vọng về nhân đức và sự sống” (Hc 24,25).
Đức Trinh nữ, đầy ân sủng, vượt trên các Thiên sứ nhờ sự viên mãn ân sủng của Người. Vì thế, Người được gọi là Mariamột cách hết sức xứng hợp. Danh xưng “Maria” này có nghĩa là “người mang ánh sáng trong mình”. Do đó, những lời ngôn sứ Isaia (58, 11) có thể áp dụng cách tuyệt hảo cho Đức Maria: “Thiên Chúa sẽ làm cho linh hồn Người tràn đầy ánh sáng.”
Về sự Vô Nhiễm Nguyên Tội
Trong khi khẳng định rằng chỉ duy nhất Người Con của Đức Trinh Nữ được hoàn toàn miễn trừ mọi tội lỗi nhờ đặc ân của sự kết hợp ngôi vị (unio hypostatica), thánh Tôma Aquinô, dựa trên quan điểm nhân học của Aristotle về sự phát triển tuần tự của linh hồn – gồm dưỡng hồn (sinh lý), giác hồn (cảm năng/tâm lý) và trí hồn (lý tính/tâm linh) – cho rằng linh hồn lý trí được Thiên Chúa phú ban sau một giai đoạn phát triển của thai nhi. Từ tiền đề này, ngài nhìn nhận sự vô nhiễm của Đức Trinh Nữ Maria theo nghĩa tiệm tiến. Theo đó, do sự hình thành tuần tự của các năng lực linh hồn trong cung lòng thân mẫu, Đức Maria chỉ được hoàn toàn giải thoát khỏi tội nguyên tổ khi Thiên Chúa phú ban linh hồn lý trí. Nói cách khác, trong các năng lực thấp hơn của linh hồn, hậu quả của tội nguyên tổ trước hết bị chế ngự, rồi sau đó được xóa bỏ hoàn toàn khi linh hồn lý trí được thông ban[12].
Về phần mình, thánh Bonaventura, thuộc truyền thống Phan Sinh, vào cuối đời đã dứt khoát bênh vực đặc ân Vô Nhiễm Nguyên Tội của Đức Trinh Nữ Maria ngay từ khi thụ thai, mặc dù ngài chưa thể giải thích trọn vẹn nền tảng thần học của đặc ân ấy. Tư tưởng này đã được thánh Grêgôriô Nazianzênô (†390) diễn tả từ nhiều thế kỷ trước khi nói rằng Đức Trinh Nữ, nhờ được cứu chuộc cách tiên dự, đã được “tiền thanh tẩy” (prépurifiée) ngay từ lúc được thụ thai. Sau này, Giáo hoàng Piô IX xác định rõ hơn rằng ân sủng gìn giữ Đức Maria khỏi mọi vết nhơ của tội nguyên tổ được ban cho Mẹ nhờ dự liệu trước công nghiệp của Đức Kitô (in praevisione meritorum Christi)[13].
Sau cùng, dưới chân Thập giá, Đức Maria đã biểu lộ một đức tin hết sức kiên vững (fides firmissima), trở thành mẫu gương của sự trung thành tuyệt đối trong đêm tối của đức tin[14].
Vấn đề “anh em” và “chị em” của Chúa Giêsu
Liên quan đến các “anh em” (adelphoi) và “chị em” (adelphai) của Chúa Giêsu được nhắc đến trong Tin Mừng[15], thánh Tôma Aquinô đồng thuận với lối chú giải của thánh Giêrônimô và kết luận rằng: “Kinh Thánh sử dụng từ 'anh em' theo bốn nghĩa: theo bản tính (natura), theo dân tộc (natio), theo họ hàng (cognatio) và theo tình thân (affectio). Vì thế, những người được gọi là 'anh em của Chúa' không phải là anh em theo bản tính, bởi họ không sinh cùng một người mẹ; nhưng là anh em theo quan hệ huyết thống (cognatio), vì họ thuộc cùng dòng tộc với Người[16].”
Về phương diện ngôn ngữ học, cũng như trong nhiều ngôn ngữ hiện đại, có những từ ngữ mang nghĩa bao quát và đôi khi được sử dụng theo nghĩa mở rộng. Chẳng hạn, trong tiếng Pháp, người ta có thể nói “J'ai mal au ventre” (Tôi đau bụng) để chỉ riêng cơn đau dạ dày. Tương tự, trong tiếng Hy Lạp tuy có thuật ngữ chuyên biệt ἀνεψιός (anepsios) để chỉ anh em họ (cousins germains), nhưng về sau từ này dần chuyển sang nghĩa cháu trai (neveu).
Trái lại, thuật ngữ ἀδελφός (adelphos) có phạm vi ngữ nghĩa rộng hơn và ổn định hơn. Ngoài nghĩa thông thường là “anh em ruột”, từ này còn có thể chỉ người bà con, thân tộc, cộng sự, đồng hương, người cùng bộ tộc hoặc thị tộc, thậm chí người có quan hệ gần gũi đặc biệt. Ở số nhiều (adelphoi), Từ điển Hy Lạp của Alexis Chassang[17] còn dịch là “anh em họ”.
Hơn nữa, bản Bảy Mươi (Septuaginta) sử dụng từ adelphos hơn năm trăm lần, trong khi anepsios chỉ xuất hiện rất ít. Điều này cho thấy các tác giả Tin Mừng đã kế thừa lối sử dụng ngôn ngữ quen thuộc của bản Bảy Mươi. Vì thế, trong giới chú giải Kinh Thánh hiện nay, hầu như không còn học giả nghiêm túc nào phủ nhận vai trò quy chiếu của bản Bảy Mươi đối với việc giải thích các bản văn Tin Mừng. Theo đó, không có cơ sở đủ vững để kết luận rằng Đức Giêsu đã có anh em ruột theo nghĩa sinh học.
Sự bổ túc phái tính
Trước những trào lưu tư tưởng đương đại đặt lại vấn đề về sự khác biệt giới tính, chẳng hạn như lý thuyết về Giới (Gender Theory) [18] và các quan điểm có xu hướng phủ nhận hoặc làm lu mờ căn tính tự nhiên của nam và nữ, truyền thống Kitô giáo vẫn kiên định khẳng định chân lý về tính bổ túc giữa hai phái (complementaritas sexuum). Chân lý này được mặc khải ngay từ trình thuật tạo dựng trong Kinh Thánh (x. St 1,27; 2,18-24) và được Huấn quyền Hội Thánh không ngừng tái khẳng định như một yếu tố nền tảng của nhân học Kitô giáo[19]. Chính trong viễn tượng ấy, thánh Tôma Aquinô trình bày vai trò của Đức Trinh Nữ Maria trong tương quan với Đức Kitô, Đấng Cứu Độ. Theo ngài, sự cộng tác của Đức Maria trong công trình cứu độ không những làm nổi bật phẩm giá và sứ mạng độc đáo của người nữ, mà còn diễn tả cách tuyệt hảo sự bổ túc giữa nam và nữ trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Thánh Tôma Aquinô viết trong Tổng luận Thần học rằng: “Sự phục hồi phải tương ứng với sự sa ngã bằng thế đối nghịch. Do đó, cũng như nguyên lý của sự hư mất mang một bản tính mỏng giòn hơn (x. 1 Pr 3, 7), thì nguyên lý của sự phục hồi cũng phải mang một bản tính mạnh mẽ hơn, giống như sự chữa lành trong cơ thể con người được thực hiện nhờ sức mạnh của một trái tim khỏe mạnh hơn. Hoặc phải nói rằng tội nguyên tổ không vào thế gian qua người phụ nữ, nhưng qua người nam, mặc dù tội lỗi bắt đầu từ người phụ nữ. Vì thế, công trình cứu độ của chúng ta phải được hoàn tất bởi một người nam, sau khi đã được khởi đầu, theo một cách thức nào đó, bởi một người phụ nữ, là Đức Trinh Nữ Diễm phúc[20].”
Trong nhãn quan thần học ấy, thánh Tôma nhìn thấy nơi Đức Maria sự đảo ngược và chữa lành tình trạng sa ngã của bà Evà. Nếu Evà, do sự bất tuân, đã trở thành người cám dỗ (tentatrix) và là khởi điểm của sự sa ngã, thì nơi Đức Maria, hình ảnh người phụ nữ được tái lập trong chương trình cứu độ của Thiên Chúa. Theo lối giải thích loại hình (typologia) đối chiếu giữa Evà cũ và Evà mới, người phụ nữ từng trở thành kẻ quyến rũ (seductrix) nay được biến đổi thành người cộng tác (adiutrix) với ân sủng. Nhờ lời Xin Vâng (Fiat) của Đức Trinh Nữ, người nữ tìm lại được phẩm giá và sứ mạng nguyên thủy của mình trong lịch sử cứu độ, trở thành người cộng tác đặc biệt vào công trình cứu chuộc của Đức Kitô. Chính vì thế, thánh Tôma nhìn nhận nơi Đức Maria vai trò Đấng Trung gian (Mediatrix), nhưng luôn theo nghĩa một sự trung gian hoàn toàn lệ thuộc và quy hướng về Đức Kitô, Đấng Trung gian duy nhất giữa Thiên Chúa và nhân loại.
Trung gian tham dự của Đức Maria
Với tư cách là Thân mẫu của Đức Giêsu và là thụ tạo hoàn hảo nhất trong chương trình cứu độ, Đức Trinh Nữ Maria được liên kết cách độc đáo với vai trò Trung gian duy nhất của Đức Giêsu Kitô. Sự liên kết này được biểu lộ đặc biệt trong ba giai đoạn trọng yếu của công trình cứu chuộc: mầu nhiệm Nhập Thể, hy tế Thập Giá và việc thông ban ân sủng cho nhân loại[21]. Tuy nhiên, sự tham dự của Đức Maria luôn phải được hiểu trong tương quan lệ thuộc hoàn toàn vào Đức Kitô. Theo đó, Đức Maria chỉ tham dự vào vai trò trung gian duy nhất của Đức Kitô – Đấng là nguyên nhân chính (causa principalis) của mọi ân sủng cứu độ – với tư cách là nguyên nhân công cụ (causa instrumentalis), nghĩa là một khí cụ thứ yếu được Thiên Chúa tuyển chọn và sử dụng trong chương trình cứu độ. Vì thế, sự trung gian của Đức Maria không bao giờ được quan niệm như một sự trung gian độc lập, song song hay ngang hàng với sự trung gian của Đức Kitô, nhưng luôn phát xuất từ, quy hướng về và hoàn toàn lệ thuộc vào sự trung gian duy nhất của Người.
, Tôn Giáo, Hà Nội, 2026, trang 115–193.Đức Maria, Đấng Trung Gian: Hiểu Hiến chế Lumen Gentium, số 60–62 dưới ánh sáng thần học của thánh Tôma Aquinônày, xin tham khảo ấn phẩm: Giuse Nguyễn Văn Giới, OP, trung gian tham dự của Đức Maria” “Để hiểu rõ hơn nền tảng Kinh Thánh, thần học và tư tưởng của thánh Tôma Aquinô về vấn đề
Tóm lại, Thánh Tôma Aquinô không chủ ý vượt qua các bậc tiền bối trong nghệ thuật sử dụng những lời lẽ tán tụng dành cho Đức Trinh Nữ Maria. Thay vào đó, ngài xây dựng một nền thần học về Đức Maria gần gũi nhất với thực tại mầu nhiệm, được diễn tả bằng những phạm trù triết học và thần học của thời đại mình. Nếu như, tương tự trường hợp các thánh thi về Thánh Thể, không ai mời gọi ngài sáng tác những bài thánh ca hay thi phẩm kính Đức Maria, thì điều đó cũng phản ánh chính lựa chọn thần học của vị Tiến sĩ Thiên thần: ưu tiên cho tính chính xác của khái niệm hơn là sự phong phú của ngôn ngữ thi ca.
Trong khi nhiều tác giả thời Trung Cổ không ngừng tìm kiếm và phổ biến các tước hiệu tôn vinh Đức Maria, thánh Tôma hầu như không sử dụng những danh xưng ấy, mặc dù ngài không hề phủ nhận giá trị của chúng. Chẳng hạn, thánh Antôninô thành Firenze o. p., (†1459) đã ca tụng Đức Maria bằng hàng loạt tước hiệu như: Cửa Thiên Đàng, Vinh quang của các Tông đồ, Niềm vui của các Thiên thần, Đấng Trung gian của nhân loại, Nữ Vương Thiên Đàng, Mẹ của vũ trụ...[22] Danh sách này còn có thể được bổ sung bằng các tước hiệu trong Kinh Cầu Đức Bà (Litanies de Lorette), vốn được hình thành từ khoảng thế kỷ XV.
Mặc dù hiếm khi trực tiếp bàn đến tín điều Đức Maria Hồn Xác Lên Trời, thánh Tôma vẫn khẳng định cách rõ ràng rằng Đức Trinh Nữ đã được tôn vinh trong vinh quang thiên quốc[23]. Có thể nói, ngài không chủ trương đề xuất những tín điều mới về Đức Maria; đóng góp đặc biệt của ngài nằm ở việc kiến tạo một hệ thống khái niệm thần học chặt chẽ nhằm bảo vệ và làm sáng tỏ các chân lý Thánh Mẫu. Những suy tư ấy xoay quanh các tín điều nền tảng như: Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa (Dei Genitrix), Đấng đầy ân sủng, Vô Nhiễm Nguyên Tội, Trọn đời Đồng trinh và được tôn vinh trong vinh quang thiên quốc.
Thiên tài thần học của thánh Tôma được biểu lộ cách nổi bật nơi việc suy tư về mầu nhiệm Truyền Tin. Từ biến cố này, tư tưởng của ngài không chỉ soi sáng vai trò của Đức Maria mà còn mở ra một chiều kích giáo hội học sâu sắc, sau này được Công đồng Vaticanô II diễn tả khi gọi Hội Thánh là “bí tích phổ quát của ơn cứu độ”[24]. Trong Tổng luận Thần học, thánh Tôma Aquinô đặt ra vấn nạn: “Có cần phải loan báo cho Đức Trinh Nữ biết rằng Người sẽ sinh hạ Con Thiên Chúa hay không?” Qua việc trả lời vấn nạn này, ngài trình bày bốn lý do thần học nhằm giải thích tại sao Thiên Chúa đã muốn sai sứ thần truyền tin cho Đức Maria trước khi mầu nhiệm Nhập Thể được thực hiện[25]. Thứ nhất, việc truyền tin nhằm bảo đảm trật tự thích hợp cho sự kết hiệp giữa Con Thiên Chúa và Đức Trinh Nữ trong mầu nhiệm Nhập Thể. Thứ hai, nhờ được chính Thiên Chúa mặc khải trước, Đức Maria có thể làm chứng về mầu nhiệm này với sự xác tín và đáng tin cậy hơn. Thứ ba, Thiên Chúa muốn Đức Maria tự do và chủ động hiến dâng sự cộng tác của mình trong chương trình cứu độ; điều này được diễn tả cách trọn vẹn qua lời thưa xin vâng: “Này tôi là nữ tỳ của Chúa” (Lc 1,38). Thứ tư, việc truyền tin biểu lộ một cuộc hôn phối thiêng liêng giữa Con Thiên Chúa và nhân loại. Chính vì thế, biến cố Truyền Tin đòi hỏi sự ưng thuận của Đức Trinh Nữ, không chỉ với tư cách cá vị, nhưng còn như người đại diện cho toàn thể nhân loại trong việc đón nhận Ngôi Lời nhập thể.
Nhóm Du Thuyết Vinh Sơn, Cát Đàm
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Kinh Thánh
Nestle-Aland. Novum Testamentum Graece (Na28). Stuttgart: Deutsche Bibelgesellschaft, 2012.
Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ. Kinh Thánh. Hà Nội: Tôn Giáo, 2011.
Thánh Tôma Aquinô
Thomas d’Aquin. Commentaire des Sentences de Pierre Lombard. Paris: Les Éditions du Cerf, 2025.
———. Somme théologique. Tome I. Paris: Les Éditions du Cerf, 2021.
———. Somme théologique. Tome II. Paris: Les Éditions du Cerf, 2021.
———. Somme théologique. IIIa, tome IV. Paris: Les Éditions du Cerf, 1986.
———. Super Evangelium S. Matthaei Lectura (Commentary on Saint Matthew's Gospel). Translated by R. F. Larcher, O.P. Chapters 1–12.
Huấn quyền
Catechism of the Catholic Church. 2nd ed. Vatican City: Libreria Editrice Vaticana, 1997.
Congregation for the Doctrine of the Faith. Declaration Fiducia Supplicans on the Pastoral Meaning of Blessings. Vatican City, 18 December 2023.
———. Declaration Dignitas Infinita on Human Dignity. Vatican City, 2 April 2024.
———. Letter to the Bishops of the Catholic Church on the Collaboration of Men and Women in the Church and in the World. Vatican City, 31 May 2004.
Francis. Amoris Laetitia. Vatican City: Libreria Editrice Vaticana, 2016.
———. Laudato Si’. Vatican City: Libreria Editrice Vaticana, 2015.
———. General Audience, 15 April 2015. L’Osservatore Romano, 16 April 2015.
John Paul II. Mulieris Dignitatem. Vatican City: Libreria Editrice Vaticana, 1988.
Pius IX. Ineffabilis Deus. Vatican City, 8 December 1854.
Second Vatican Council. Lumen Gentium. In Acta Apostolicae Sedis 57 (1965): 5–75.
Từ điển
Alexis Chassang. Dictionnaire grec-français. Paris: Hachette, 1872.
Sách nghiên cứu
, Hà Nội: Tôn Giáo, 2026.Đức Maria, Đấng Trung Gian: Hiểu Hiến chế Lumen Gentium, số 60–62 dưới ánh sáng thần học của thánh Tôma AquinôGiuse Nguyễn Văn Giới, O.P.,
Jean-Pierre Torrell. Saint Thomas Aquinas. Vol. 1: The Person and His Work. Rev. ed. Washington, D.C.: The Catholic University of America Press, 2005.
Tài liệu trực tuyến
Tổng Giáo phận Sài Gòn. “Lý thuyết về giống (Gender Theory): Một học thuyết kỳ lạ về giới tính.” Truy cập ngày 13/07/2026; https://tgpsaigon.net/bai-viet/ly-thuyet-ve-giong-gender-theorymot-hoc-thuyet-ky-la-ve-gioi-tinh-37057
isidore.co/aquinas/SSMatthew.htm#1
[1] X. Jean-Pierre Torrell, Saint Thomas Aquinas: The Person and His Work, Washington, D.C.: The Catholic University of America Press, 2005, tr. 289–295.
[2] Thomas Aquinas, Super Evangelium S. Matthaei Lectura, cap. 1, lect. 4. (Tôma Aquinô, Bài chú giải Tin Mừng Mátthêu, chương 1, bài giảng 4): “Maria, một danh xưng riêng, được hiểu là Ngôi Sao Biển, hoặc Đấng soi sáng, và là Đức Bà; chính vì thế, trong sách Khải Huyền (12, 1), Mẹ được mô tả là có mặt trăng ở dưới chân.”
[3] Thomas d’Aquin, Somme théologique, IIIa, q. 30, a. 4, sol.1.
[4] X. Thomas d’Aquin, Somme théologique, IIIa, q.29, a.1, ad 4.
[5] X. Thomas d’Aquin, Somme théologique,, IIIa, q.28, a.1, ad 2.
[6] X. Ibid., IIIa, q.27, a.2, ad 2.
[7] X. Ibid.,Ia, q.25, a.6, ad 4.
[8] X. Ibid., IIa-IIae, q.164, a.2, ad 3; IIIa, q.35, a.6.
[9] X. Ibid., Ia-IIae, q.103, a.3, ad 4.
[10] X. Ibid., IIIa, q.27, a.2, s.c.
[12] X. Ibid., IIIa, q. 27, a. 3.
[13] X. Pius IX, Ineffabilis Deus, 8/12/1854; Grégoire de Nazianze, Oratio 38.
[14] X. Thomas Aquinas, In III Sententiarum, d. 3, q. 1, a. 2, ql. 2, ad 1.
[15] x. Mc 3,31; 6,3
[16] Ibid., IIIa, q.28, a.3, ad 5.
[17] Alexis Chassang, Dictionnaire grec-français, 1872, mục từ ἀδελφός.
[18] Xem thêm: “Lý thuyết về giống (Gender Theory): Một học thuyết kỳ lạ về giới tính.” Truy cập ngày 13/07/2026; https://tgpsaigon.net/bai-viet/ly-thuyet-ve-giong-gender-theorymot-hoc-thuyet-ky-la-ve-gioi-tinh-37057
[19] Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II, Mulieris Dignitatem (1988), số 6–7; The Congregation for the Doctrine of the Faith, Letter to the Bishops of the Catholic Church on the Collaboration of Men and Women in the Church and in the World (2004); Đức Thánh Cha Phanxicô, Amoris Laetitia (2016), số 56. Dignitas Infinita (2024), số 11. 55-60. Đức Thánh Cha Phanxicô, Thông điệp Laudato si’ (2015), số 155; Catechesis (15 April 2015): L’Osservatore Romano, 16 April 2015, p. 8. Tuyên ngôn Fiducia Supplicans (ban hành ngày 18/12/2023), số 4.
[20] X. Ibid., IIIa, q. 31, a. 4, ad 1.
[21] X. B. LAVAUD, “De la causalité instrumentale de marie médiatrice de toute grâce”, dans RT, 32 (1927), tr. 424. On trouve la même référence dans : B. LAVAUD, “Saint Thomas et la causalité physique instrumentale de la sainte humanité et des sacrements”, dans RT, 32 (1927), tr. 292.
[22] X. Antoninus Florentinus, Summa Theologica, Pars IV.
[23] X. Thomas d’Aquin, Somme théologique, IIIa, q. 27, a. 1.
[24] Vatican II, Lumen Gentium, số 48.
[25] Ibid., IIIa, q. 30, a. 1, ad 4.
Copyright © 2021 Bản quyền thuộc về Giáo Phận Thái Bình
Đang online: 123 | Tổng lượt truy cập: 13,690,341