Khởi đi từ câu chuyện của một vị Thánh
Mỗi độ đến đại lễ mừng kính Thánh Martinô de Porres, O.P. (1579 – 1639) [1], hẳn là mỗi người lại lắng đọng trong những tâm tình khi hướng về gương sáng bác ái của ngài. Nơi vị tu sĩ da màu khiêm nhường ấy, tình yêu thương không chỉ dừng lại ở những lời giáo huấn trừu tượng mà đã hóa thành một dòng chảy sống động, dạt dào và chạm đến mọi bờ cõi của sự sống. Tấm lòng trắc ẩn của ngài rộng lớn đến mức không chỉ dang tay ôm trọn những “anh em khó nghèo” bị lãng quên bên lề xã hội, mà còn cúi xuống vỗ về từng “thú vật ngoài đồng”. Chính đời sống trao hiến trọn vẹn ấy đã khiến nhân thế không ngừng ca ngợi ngài như một “tấm gương huy hoàng của đức bác ái”, một ngọn hải đăng soi sáng giữa thế gian đầy rẫy sự chia rẽ và ích kỷ.
Thế nhưng, khi chiêm ngắm tấm lòng vàng ấy, một câu hỏi khắc khoải lại trỗi dậy: Đâu là nguồn mạch đã nuôi dưỡng nên một tình yêu vĩ đại và kiên trung đến thế? Điều gì đã giúp ngài giữ vững ngọn lửa yêu thương mà không rơi vào sự mệt mỏi hay thất vọng trước cái nghèo và sự thờ ơ của con người?
Câu trả lời đưa chúng ta vượt qua những cảm xúc nhân văn thông thường để chạm vào chiều sâu cốt lõi của Kitô giáo: khái niệm caritas. Chính từ việc suy tư về đời sống của ngài, chúng ta được mời gọi dấn thân vào một cuộc hành trình khám phá nguồn gốc, bản chất và sự cọ xát mãnh liệt giữa caritas và cupiditas trong phận người.
Bản dịch Tân Ước đã sử dụng Caritas thay cho từ Agape trong nguyên bản Hy Lạp. Tuy nhiên chúng ta cũng cần biết rằng trong tiếng Hy Lạp cũng có nhiều từ dùng để diễn tả “yêu” như: Philia - nói đến tình cảm thân thiết như tình bạn; storge - tình yêu bao gồm sự quan tâm theo nghĩa nghĩ đến lợi ích và hạnh phúc của người mình yêu thương nhưng không phải là không tương thích với ước muốn tính dục; Eros - thường được gắn với sự hấp dẫn tính dục mạnh mẽ.[2]
Agape hay caritas là tình yêu đặc trưng của Kitô giáo và có những đức hạnh như được mô tả trong thư của thánh Phaolô gửi tín hữu Côrintô: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tuông, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.” (1Cr 13, 4-7).
Theo nguyên nghĩa Latinh, caritas có gốc bởi tính từ carus (thân yêu, quý giá), nhưng cũng có ý kiến cho rằng nguồn gốc của nó là charis trong tiếng Hy Lạp (ân huệ, quà tặng, duyên dáng). Ta không thể phủ nhận những khó khăn trong việc chuyển nghĩa danh từ caritas sang tiếng Việt. Tuy nhiên các tổ chức Caritas được thiết lập tại mỗi giáo phận gợi lên ý tưởng caritas là “bác ái”. Ý nghĩa tương đương với charité (tiếng Pháp) hoặc charity (tiếng Anh). Đối với nhân đức hướng Chúa, caritas được dịch là Đức mến (1Cr 13, 4-7) hoặc đó là tình yêu. Thiên Chúa là tình yêu (Deus caritas est) và bản chất của Thiên Chúa là tình yêu. Như vậy cũng tùy thuộc vào mạch văn mà caritas được hiểu như là: bác ái, đức mến, đức ái, tình yêu.[3] Nhận xét trên cho thấy caritas được thể hiện trên nhiều góc độ, và từ đó thần học về caritas cũng mang nhiều khía cạnh khác nhau. Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều cuộc tranh luận sôi nổi diễn ra không chỉ trong nội bộ Kitô giáo mà còn trong tương quan giữa các tư tưởng triết học và tôn giáo ngoài Kitô giáo về đề tài này.
Hannah Arendt và nguồn gốc của Appetitus
Khi lật mở cuốn Love and Saint Augustine của Hannah Arendt, triết gia chính trị kiệt xuất gốc Do Thái, chúng ta chứng kiến một cuộc đối thoại nảy lửa giữa tư tưởng Kitô giáo cổ điển và triết học phương Tây thế kỷ XX. Được hai học giả Joanna Vecchiarelli Scott và Judith Chelius Stark biên tập lại và xuất bản, tác phẩm khởi nguồn từ luận án trình nộp năm 1929 tại Đức. Arendt từng khiêm tốn nhận định rằng sự lựa chọn đề tài này đơn giản vì một chủ đề như vậy không phải là quá lạ thường trong các trường đại học tại Đức lúc bấy giờ. Tuy nhiên, bối cảnh tri thức thời ấy mang một sức nặng cụ thể. Augustinô không chỉ là đề tài của riêng Arendt; các triết gia đồng cựu như Hans Jonas cũng đào sâu vào vị Giám mục thành Hippo qua tác phẩm Augustine und das paulinische Freiheitsproblem [Göttingen, 1930] nhằm mổ xẻ cuộc tranh luận gay gắt về tự do và chủ thuyết Pelagius. Quan trọng hơn cả, tư tưởng của Arendt được định hình sâu sắc dưới bóng rợp của hai đại trí thức là Martin Heidegger và Karl Jaspers, những người luôn trăn trở tìm kiếm lời đáp cho “thông điệp hiện sinh của Augustinô”.[4]
Chính trong mảnh đất tư tưởng màu mỡ đó, Arendt đã bóc tách cấu trúc tình yêu của Augustinô thông qua hai trục tọa độ đối ứng: Caritas (Đức Bác ái / Tình yêu hướng thượng) và Cupiditas (Tham ái / Dục vọng trần thế). Cả caritas vàcupiditas đều không tự nhiên mà có; chúng chia sẻ chung một gốc rễ đó là sự khát khao (appetitus). Thuật ngữ appetitusvốn mang hơi thở của truyền thống triết học Hy Lạp kéo dài từ Aristotle cho đến Plotinus. Dưới lăng kính của Augustinô và Arendt, con người không phải là một hữu thể tĩnh tại, mà là một hữu thể “được định nghĩa bởi sự khát khao”. Appetituskhông phải là một lực đẩy trung tính, mà là động lực hiện sinh cơ bản nhất, một cơn khát đốt cháy nội tâm, ép buộc con người phải liên tục vươn ra bên ngoài chính mình (ex-sistere) để truy tìm một đối tượng có thể lấp đầy khoảng trống.
Dù chung một cội nguồn appetitus, caritas và cupiditas lại đại diện cho hai hướng đi hoàn toàn vỡ đôi, nếu không muốn nói là xung khắc đến sinh tử. Ranh giới chia cắt hai tình yêu này không nằm ở cường độ của sự khao khát, mà nằm ở đối tượng mà nó hướng tới và bản chất của sự gắn kết mà nó đặt để lên số phận con người.
Cupiditas – Tham ái trần thế, sự vô định và cạm bẫy của hư vô
Để hiểu rõ sự sụp đổ hiện sinh của con người khi xa rời Thiên Chúa, chúng ta cần đào sâu bản chất của cupiditas. Trong khi caritas hướng về Đấng Tối Cao, nguồn cội bất biến của sự sống thì cupiditas (dục vọng, tham ái, hay tình yêu thế trần) lại cắm rễ sâu vào thế gian hữu hạn và những thụ tạo hay biến đổi. Trong phân tích của Hannah Arendt về Augustinô, cupiditas bắt đầu khi con người quay lưng lại với cội nguồn nội tâm để truy tìm hạnh phúc ở bên ngoài chính mình (extra me hoặc foris a me). Con người nhầm tưởng rằng những đối tượng vật chất, danh vọng, quyền lực, hay những mối tương quan thụ tạo có thể thỏa mãn cơn khát vĩnh cửu trong tâm hồn. Tuy nhiên, sự tìm kiếm này hoàn toàn vô ích. Các đối tượng của cupiditas mang bản chất thụ tạo: chúng sinh ra, suy tàn và biến mất. Khi con người gắn bó hạnh phúc của mình vào những điều hư ảo ấy, họ tự đặt mình vào một trạng thái vô cùng mong manh. Arendt chỉ ra rằng, cupiditasbiến con người trở thành nô lệ theo hai cách:
Chính nỗi sợ hãi thường trực ấy đã cho thấy bản chất của cupiditas: một tình yêu không nhân danh tự do mà đem lại sự nô dịch, không đơm hoa an định mà chỉ gieo rắc bất an.
Một điểm then chốt trong tư tưởng Augustinô được Arendt nhấn mạnh là: Con người trở thành cái mà nó yêu. Khát khao (appetitus) không chỉ là một hành vi hướng ngoại đơn thuần, mà nó có khả năng cấu trúc lại bản thể của chủ thể. Nếu con người yêu mến Thiên Chúa (caritas), họ được dự phần vào sự vĩnh cửu và thánh thiện của Ngài. Ngược lại, sự khao khát thế sự phù vân (cupiditas) làm thay đổi bản chất của con người và nó biến đổi con người thành một thực thể trần tục. Khi yêu những thứ chóng qua, con người tự kéo mình xuống mức độ của những vật thể trần thế vốn hữu hạn, mỏng giòn và phải chịu sự chi phối của cái chết.
Cupiditas mãnh liệt và khôn lường. Con người có thể yêu những điều mình không nên yêu nhưng vẫn cảm thấy hạnh phúc ngắn hạn. Hạnh phúc ấy ảo diệu là vì họ được tận hưởng những điều mà họ khao khát có trong trần gian. Thế nhưng, đó tuyệt nhiên không phải là hạnh phúc đích thực. Vì đối với thánh Augustinô, điều thiện hảo nhất của thụ tạo phải là Đấng Sáng Tạo. Cũng vậy, hạnh phúc đích thực của chúng ta chỉ có khi chúng ta kết hợp mật thiết với Thiên Chúa (inhaerere Deo). Hạnh phúc chỉ có thể cảm nhận khi khoảng cách giữa chủ thể là một người và đối tượng của chủ thể này là điều mà người ấy khát khao không còn nữa; và chỉ duy nhất Thiên Chúa mới là đối tượng không bao giờ mất đi hay làm phụ lòng chủ thể.
Từ Cupiditas đến Caritas
Chính cuộc đời của Augustinô là minh chứng rõ nét nhất cho cuộc giao tranh giữa cupiditas và caritas. Augustinô có thể đã trải qua tuổi trẻ với nhiều biến động. Tiên vàn, thánh nhân hết mình với tình yêu cupiditas khi đắm mình trong những lạc thú cuồng nhiệt, đuổi theo danh vọng trí thức trần thế, và tìm kiếm sự lấp đầy nơi các thụ tạo. Nhưng càng đắm chìm vào cupiditas, ngài càng nhận ra sự tan vỡ và trống rỗng tận cùng của kiếp người.
Chỉ khi ngài ngưng tìm kiếm bên ngoài (foris) và quay trở lại lòng mình (in te), ngài mới nhận ra Thiên Chúa vẫn luôn chờ đợi ngài ở đó. Ngài đã chuyển hướng đối tượng khát vọng của mình từ những thụ tạo chóng qua đến Đấng Tạo Hóa vĩnh cửu trong tình yêu caritas. Nỗi niềm hoán cải sâu sắc ấy đã được ngài cất lên thành những lời tự thú bất hủ trong tác phẩm Tự thuật:
“Này, Ngài vốn ở trong con, mà con lại ở ngoài con và vì thế con tìm Ngài ở bên ngoài; là kẻ xấu xa, con đã lăn xả vào những vật xinh đẹp Ngài đã tạo dựng nên. Ngài đã ở với con mà con lại không ở với Ngài. Chính những vật, nếu không hiện hữu trong Ngài thì không bao giờ hiện hữu, đã cầm giữ con xa Ngài. Ngài đã kêu gọi, đã gào thét, đã thắng sự điếc lác của con. Ngài đã soi sáng, đã chiếu rọi, đã xua đuổi sự mù lòa của con. Ngài đã tỏa mùi thơm của Ngài ra và con đã được hít lấy và đâm ra say mê Ngài. Con đã được nếm Ngài, và đâm ra đói khát Ngài; Ngài đã đụng tới con và con ước ao sự bình an của Ngài.”[5]
Sự đối lập giữa cupiditas và caritas không chỉ là một lý thuyết của Augustinô hay Hannah Arendt, mà nó cắm rễ sâu xa trong chính giáo huấn của Chúa Giêsu Đấng Đã Phục Sinh.
Mở đầu Bài Giảng Trên Núi, Đức Giêsu công bố: “Phúc thay ai khát khao nên người công chính” (Mt 5,6). Sự khao khát ấy có đối tượng là Thiên Chúa, là sự khát khao được trở nên hoàn thiện như Cha trên trời là Đấng hoàn thiện. Đó chính là sự định hướng lại toàn bộ appetitus của con người từ cupiditas sang caritas.
Bên cạnh đó, Đức Giêsu còn đưa ra yêu cầu cách triệt để hầu bẻ gãy gông cùm của cupiditas: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi”(Mt 19,21) hoặc “Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền tài” (Lc 16,13). Yêu sách này đòi hỏi một sự đứt đoạn dứt khoát với tinh thần chiếm hữu của trần gian.
Cuối cùng, thánh Augustinô cũng nhắn nhủ: “Anh em hãy biết rằng mình ra khỏi Ai Cập khi dứt bỏ thế gian” khi nói về thánh vịnh 113A (114): “Chúa giải thoát Ít-ra-en khỏi Ai Cập.”[6] Hành trình ra khỏi Ai Cập không chỉ là một sự kiện lịch sử địa lý, mà là hình ảnh ẩn dụ cho cuộc vượt thoát tinh thần: từ bỏ sự thống trị của cupiditas để bước vào tự do của caritas.
Kết luận:
Tóm lại, qua tấm gương đời mình, thánh Martinô de Porres đã cho thấy rằng chúng ta có thể đạt được sự thánh thiện bằng con đường tình yêu mà Chúa Kitô đã dạy: Yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn hết trí khôn và yêu người thân cận như chính mình.[7] Đó là thứ tình yêu mà chúng ta nhắc đến - caritas, là điều ấp ủ, tràn lan trong tấm lòng của Martinô de Porres. Tình yêu ấy hướng đến đối tượng là Thiên Chúa và cuộc sống vĩnh cửu. Cũng như vậy, thánh Catarina Siena cũng hướng tình yêu của mình đến Thiên Chúa khi nói rằng: “Ai lấy tình yêu đáp đền tình yêu thì có thể nói rằng là đã trao một ly nước cho Đấng Tạo Hóa.”[8]
Sống với tình yêu caritas trong thế gian có thể khiến chúng ta thành kẻ thù của thế gian. “Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em” (Ga 15,19). Quả thật, điều ấy được xác nhận trong lịch sử của Giáo hội khi người Kitô hữu luôn bị thế gian thù ghét và hãm hại vì đời sống của họ không giống thế gian và không dành cho và hướng về thế gian.
Tuy nhiên, chính trong bối cảnh một xã hội hiện đại đang bị thiêu rụi bởi cupiditas - nơi con người mải mê tích trữ, chiếm hữu, và quay cuồng trong những lo âu của thụ tạo chóng qua - thì lựa chọn sống theo caritas lại trở thành một lời chứng tá kiên cường nhất. Mỗi vị thánh nên thánh bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng khi chiêm ngưỡng gương sáng của một vị thánh bất kỳ, ta thấy tất cả công việc các thánh làm đều vì đức ái. Noi gương các thánh, chúng ta học sống yêu thương, bác ái mà hướng tới Thiên Chúa, hướng về hạnh phúc Nước trời.
Đức Hữu
[1] Martinô de Porres chào đời trong một hoàn cảnh rất đặc biệt – thậm chí có thể nói là bi đát và thương tâm – giữa thế kỷ mười sáu (ngày 9/12/1579), cậu bé Martinô de Porres đã sớm chứng tỏ cho mọi người thấy: lòng yêu mến không cần phải có điều kiện, hay hoàn cảnh thuận lợi.
Mang trong mình dòng máu hiệp sĩ của người Cha Don Juan de Poret, Martinô đã vượt qua những rào cản của kỳ thị, của những khinh miệt và nhiễu nhương của thời cuộc để sống tâm hồn đơn sơ, phó thác, và tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu thương quan phòng của Thiên Chúa. Nhờ dòng máu của người mẹ da den Anna velasquez, Martinô đã sớm thấu hiểu thế nào là bị ruồng bỏ, bị khinh chê và phải hứng chịu bất công của xã hội. Nhưng hoàn cảnh đau buồn ấy không làm cho cậu bé Martinô nổi loạn hay chống đối xã hội. Trái lại, cậu đã dùng những bất công, kỳ thị và thiệt thòi ấy của bản thân để chứng minh cho mọi người thấy rằng “mọi sự đều có thể sinh lợi ích cho những ai yêu mến Thiên Chúa”. Không những, Martinô đã vượt qua hoàn cảnh bất lợi của mình, mà cậu còn sống đẹp và thật hữu ích cho mọi người, trở thành bài ca bác ái vang mãi đến tận hôm nay và sau này nữa.
Thiếu vắng tình thương của người cha, Martinô không oán đời hay trách người, cậu vẫn giữ lòng hiếu thảo và trọng kính với cha, nhờ vào việc cậu đã thấu cảm tình thương vô biên của Thiên Chúa là CHA THẬT của hết mọi người, không phân biệt sang hèn, đen trắng… Cậu đã khám phá và xây dựng cho mình một triết lý sống: “Tất cả mọi người đều là anh em với nhau trong Chúa, vì là con một Cha trên trời.”
Vì thế, cậu đã quên đi cái nghèo, cái bất hạnh của mình để đến với mọi người. Từ những cụ già bị hành hạ, đói lả trên đường, hay những bệnh nhân đau đớn sống dở chết dở, cho tới những chú mèo, chị chuột… tất cả đều nhận được sự quan tâm, chăm sóc và yêu thương của cậu.
“Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.” (Ga 15,13).
Khi biết cha bề trên lo buồn vì những món nợ khổng lồ của tu viện, nguyên nhân dẫn đến những món đồ trong nhà lần lượt đội nón ra đi, Martinô đã cầu nguyện rất nhiều và mong muốn làm được chút gì đó để chia sẻ gánh nặng với cha bề trên và cộng đoàn. Một lần, Martinô đang quét hành lang thì thấy cha bề trên tất tả ra đi với hai gói lớn. Thoáng nhìn vẻ mặt mệt mỏi của ngài, Martinô cảm thấy lòng dâng lên một nỗi cảm thông dạt dào.
Đoán biết sự việc, cậu chạy vào phòng ăn kiểm tra lại, thì thấy hai bức tranh trên tường đã biến mất. Martinô cảm thấy tiếc hai bức tranh đẹp, và chưa biết xử trí ra sao, thì một tia sáng chợt lóe lên trong đầu. Cậu lật đật đuổi theo cha bề trên, vừa thở hổn hển vừa nói:
“Thưa cha bề trên, cha không cần phải bán hai bức tranh này. Xin cha hãy đem con đi bán ! Con khỏe mạnh, có chút chữ nghĩa và biết làm nhiều việc. Như thế, cha có thể bán con với giá cao, chừng đó, chẳng những cha có dư tiền để trả nợ mà còn có thể mua thêm vài bức tranh nữa. Thật là đơn giản, thưa cha”.
Cha bề trên há hốc miệng tỏ vẻ kinh ngạc, vì cha vừa được nhìn ngắm vào tận đáy tâm hồn trong suốt của người giúp việc da đen này, cha cảm thấy nỗi mệt mỏi tan biến và hai gói hàng nặng dưới tay cha trở nên nhẹ bổng. Cha đặt hai bức tranh xuống đất, ôm chầm lấy Martinô và nói: “Không ! Martinô ! Con không nên nghĩ như thế. Con quí giá hơn mọi vẻ đẹp trên thế gian này !”
Một trong những ơn riêng Thiên Chúa ban cho Martinô, là ơn làm cho bánh hóa nhiều. Mỗi sáng Martinô thường ăn uống thật vội vã để có giờ tiếp đón hàng trăm người nghèo đang đứng đợi thày ngoài cổng. Bởi vì Martinô hiểu được sự thật này: phục vụ người nghèo là phục vụ Chúa Kitô, thế nên thày không muốn để Ngài phải đợi lâu ngoài cửa.
“Xin Chúa chúc lành và gia tăng của ăn này để làm no lòng những người đến đây”.
Đó là lời “truyền phép” đơn sơ của thày Martinô trên giỏ lương thực. Trong khoảng một giờ đồng hồ, Martinô đứng ở cửa tu viện phân phát thức ăn, và dưới con mắt đức tin, thày thấy những bàn tay đang giơ ra kia là những bàn tay của Chúa. Nghĩ như thế, nên không bao giờ thày nhìn xuống giỏ thực phẩm để tính toán. Thức ăn vẫn tiếp tục còn trong giỏ bao lâu thày muốn. Đến khi mọi người đã no nê, Martinô đóng cửa lại, thày thu góp những mảnh vụn và thực phẩm dư thừa, rồi đi về phía chuồng bò để lo cho các chú chuột đang chờ thày ở đó được ăn. Lời thày đã hứa là hứa thật, dù là hứa với đám chuột.
Khi trái đã chín thơm và khi đóa hoa đã tỏa hương thơm ngát, chính là lúc được Thiên Chúa hái về để điểm tô thiên giới, và trở thành khí cụ chuyển thông ơn Thiên Chúa xuống cho những ai tin tưởng và đặt hy vọng vào Người.
Ngày 3-11-1639, chỉ một cơn đau nhẹ, thày Martinô qua đời, vào ngày mà thày đã báo trước cho anh em trong Dòng. Người đã từng cứu chữa các bệnh nhân, làm cho người chết sống lại và thực hiện bao nhiêu phép lạ khác đã không cứu chữa chính mình. Năm ấy, thày Martinô tròn 60 tuổi.
Lòng thương cảm người khổ đau của thày Martinô không chấm dứt sau khi quả tim đã ngừng đập. Khi thi thể thày còn được quàn tại tu viện, nhiều người bị bệnh nan y đến chạm vào thày và đã được lành bệnh.
Những người khiêng linh cữu của thày Martinô đến huyệt không phải là các thày Dòng, mà là hai Giám mục, cùng với Tổng trấn Lima và Quan chánh án hoàng gia. Đông đảo dân chúng theo sau cầu nguyện và cất cao giọng hát: “Chúa hạ bệ kẻ kiêu căng và tuyên dương người khiêm hạ”.
Thật không còn lời nào đúng hơn để chúc tụng người tôi tớ da đen hèn mọn của Chúa, bởi vì họ đang từ giã một con người đặc biệt, mà mỗi nhịp đập nơi trái tim người ấy, đều hòa nhịp với trái tim của Thiên Chúa, của con người và của vạn vật.
Năm 1837, đức Grêgorio XVI suy tôn thày Martinô de Porres lên hàng chân phước. Ngày 6-5-1962, đức Gioan XXIII ghi tên ngài vào sổ các hiển thánh.
Chúng con nguyện xin Thánh Martinô chuyển cầu cùng Chúa cho chúng con biết theo gương thánh nhân, hát lên “bài ca bác ái”, Lời Yêu Thương trong đời, để ca ngợi và tạ ơn Thiên Chúa, đã luôn dùng mọi sự để sinh ích lợi cho những ai yêu mến Người. (Nguồn: https://gxdaminh.net/2009/03/10/cuoc-doi-thanh-martino/)
[2] Ronald de Sousa, Dẫn luận về Tình Yêu (Tp. HCM: Hồng Đức, 2016), tr. 10.
[3] Phan Tấn Thành, “Caritas – Veritas”, Thời sự Thần học, số 56 (tháng 5, 2012), tr. 13.
[4] Joanna Vecchiarelli Scott và Judith Chelius Stark., “Lời Giới Thiệu”, Love and Saint Augustine.
[5] Tự thuật X, 27,38.
[6] Ca Vịnh Kinh chiều II, Chúa nhật I.
[7] Đức thánh cha Gioan XXIII, Bài giảng lễ tuyên phong Martinô de Porres lên bậc hiển thánh, Thời sự Thần học, số 56 (tháng 5, 2012), tr. 8.
[8] Sđd.
Copyright © 2021 Bản quyền thuộc về Giáo Phận Thái Bình
Đang online: 124 | Tổng lượt truy cập: 15,840,117