Lời nhắc nhở về kiếp nhân sinh vắn vỏi
Giữa sự vận hành miệt mài của đất trời, vạn vật luôn biểu đạt một sự thay đổi tuần hoàn đầy kỳ diệu. Tiết trời miền Bắc đang dần chuyển mình bước vào những ngày chớm hè. Không còn nữa cái màn sương mờ hay những cơn mưa phùn ẩm ướt của mùa xuân, thay vào đó là những vệt nắng hanh vàng đan xen với các cơn mưa rào đầu mùa chợt đến, chợt đi đầy hối hả. Giữa bầu khí giao mùa ấy, các tín hữu lại hân hoan bước vào Tháng Năm – Tháng Hoa dâng kính Đức Mẹ.
Đứng ngắm nhìn vườn hoa muôn loài đang đua nhau khoe sắc trong khu vườn rộng lớn, nơi có tượng Đức Bà trang nghiêm đứng giữa, ta chợt chìm đắm trong một chiêm nghiệm xót xa. Giữa mùa hoa rực rỡ dâng kính Mẹ, lại có những nụ hoa bé nhỏ chưa kịp bung cánh hứng trọn ánh mặt trời, chưa kịp dâng trọn hương sắc tinh khôi thì đã bị một trận mưa rào đầu hạ xối xả vô tình trút xuống, quật ngã và dập vùi. Những cánh hoa rơi rụng vội vã khi mùa hoa vừa chạm ngõ đành lặng lẽ nằm lại dưới lòng đất tĩnh mịch, để lại sự tiếc nuối khôn nguôi cho người thưởng ngoạn.
Những nụ hoa chớm hạ rụng rơi sau cơn mưa rào bất chợt ấy, phải chăng chính là một ẩn dụ hoàn hảo về kiếp nhân sinh vắn vỏi? Có biết bao cuộc đời cũng “chưa kịp…” như thế. Họ đang ở độ tuổi thanh xuân tràn đầy nhựa sống, hoặc đang ấp ủ bao dự định tương lai, chưa kịp thốt lên lời yêu thương, hay có thể học ở cái tuổi “thất thập” nhưng vẫn còn rất chi là khỏe, vẫn còn có cơ hội để sống yêu thương cách trọn vẹn thì “cơn mưa định mệnh” của tử sinh đã bất ngờ ập tới, gọi họ trở về lòng đất lạnh lẽo, để lại niềm thương xót khôn nguôi và nỗi nhớ day dứt cho người ở lại.
Mặc dù cái chết hay tai ương không chừa một mùa nào trong năm, dẫu là Mùa Chay thống hối hay Tháng Hoa rực rỡ, nó vẫn luôn là thực tại hiện hữu. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, dẫu không nhìn qua lăng kính của một tín hữu Công giáo, vẫn khắc họa trọn vẹn và tiên báo sắc sảo về nỗi niềm này qua ca từ bất hủ: “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi, để một mai tôi về làm cát bụi”. Câu hát ấy đồng vọng một cách lạ lùng với lời phụng vụ đầy uy nghiêm mà các tín hữu được nghe trong hành trình đức tin: “Hỡi người, hãy nhớ mình là tro bụi, một mai người sẽ trở về bụi tro”. Lời nhắc nhở ấy đưa chúng ta đối diện trực tiếp với hiện thực tận cùng của sự tồn tại, khơi dậy thao thức về thân phận mong manh của kiếp người dẫu bề ngoài có rực rỡ như những đóa hoa tháng Năm đi chăng nữa.
Huyền nhiệm của sự tồn tại
Sự giới hạn tuyệt đối của con người chính là “sự chết”. Chúng ta đang sống trong một thế giới đầy rẫy bất trắc, nơi những thảm họa ngoài tầm kiểm soát luôn rình rập cướp đi sự bình yên. Những năm vừa qua, đại dịch Covid-19 đã biến biết bao sinh mệnh thành tro bụi. Rồi đến bi kịch chiến tranh, như nỗi đau đang xé nát đất nước Ukraine, Iran, Israel… khói lửa đạn bom gieo rắc sự tang thương không đếm xuể. Đôi khi, cái chết ập đến thật gần, tước đoạt một người bạn chưa kịp họp mặt tân niên theo ước hẹn, để rồi thân xác anh nay đã thực sự trở thành tro bụi hiện sinh. Đứng trước những thực tại nghiệt ngã ấy, Lời Chúa đã hoàn toàn ứng nghiệm.
Hơn thế nữa, sự hữu hạn của kiếp người không chỉ bộc lộ ở sự kết thúc sinh mệnh vật lý mà còn ăn sâu vào trong mọi cấu trúc của thế giới. Dẫu nhân loại đã không ngừng nỗ lực để xây dựng các định chế pháp luật và luân lý nhằm vượt lên khỏi thế giới sinh vật vô tri, bóng ma của những quy luật khắc nghiệt như “mạnh được yếu thua” hay “cá lớn nuốt cá bé” vẫn luôn lẩn khuất và cản bước con người. Bất chấp những nỗ lực đấu tranh vĩ đại nhất, thế giới loài người chưa bao giờ vươn tới được một sự công bằng trọn vẹn; những định chế công bình dường như chỉ là một chút đường bỏ vào đại dương bất công mênh mông của lịch sử.
Tuy nhiên, Thiên Chúa không đem Lời của Ngài ra như một ngọn roi răn đe để tiêu diệt con người. Giới hạn và bi kịch không phải là tiếng nói cuối cùng. Cuộc đời con người vốn không phải là một bài toán cơ học với những kết quả cố định, mà là một câu chuyện huyền nhiệm chứa đựng vô vàn những khả năng sáng tạo bất ngờ. Bất luận cuộc đời ấy có khởi đầu hèn mọn, chịu nhiều thiệt thòi hay bị đè nén tận dưới tầng đáy xã hội, bản thân ngã vị của mỗi người vẫn mang một phẩm giá thiêng liêng cao quý do chính Thiên Chúa trao tặng nhưng không. Trong câu chuyện cuộc đời đầy những nẻo đường quanh co ấy, Thiên Chúa luôn dấn thân và đồng hành như một “Tác Giả” vĩ đại. Bằng quyền năng và lòng thương xót vô biên thấm sâu tận đáy cuộc đời, Ngài biến những chất liệu dẫu tồi tàn nhất của lịch sử thành một tác phẩm nghệ thuật cứu độ kỳ diệu. Do đó, nhận thức về tro bụi là một lời khích lệ để con người không bị ràng buộc bởi những hư danh không thuộc về mình, từ đó mạnh mẽ vươn lên trong cuộc sống.
Niềm hy vọng vượt lên trên giới hạn
Thiên Chúa không cho con người trở về tro bụi để chìm vào cõi hư vô, mà dùng thực tại trần thế này để chúng ta thấu hiểu rằng: kiếp người sẽ được biến đổi để tiến sang một sự sống mới, một trạng thái mới vắng bóng hoàn toàn mọi vướng mắc của bụi tro gian trần. Đức Thánh Cha Phanxicô, trong Sứ điệp Mùa Chay năm 2022, đã viện dẫn sâu sắc về mầu nhiệm Phục Sinh để củng cố đức tin này. Chính sự phục sinh của Chúa Kitô đã làm sống động mọi hy vọng trần thế, trao ban một “niềm hy vọng lớn lao” về sự sống đời đời, gieo hạt giống cứu độ vào ngay giữa lòng thực tại hiện tại của chúng ta[1]. Đứng trước sự nghèo nàn của phương tiện nhân loại, trước những giấc mơ vỡ vụn và bao nỗi bận tâm phía trước, con người rất dễ bị cám dỗ thu mình vào sự ích kỷ cá nhân hoặc dửng dưng trước nỗi đau tha nhân[2].
Lời Kinh Thánh đã vạch rõ sự mỏng giòn của thân xác: “Thanh niên thì mệt mỏi, nhọc nhằn, trai tráng cũng ngả nghiêng, lảo đảo” (Is 40,30). Nhưng Lời Chúa cũng mời gọi các tín hữu đặt trọn vẹn niềm tin vào Thiên Chúa, Đấng “ban sức mạnh cho ai mệt mỏi; kẻ kiệt lực, Người làm cho nên cường tráng... Ai trông cậy vào Chúa thì được thêm sức mạnh. Như thể chim bằng, họ tung cánh. Họ chạy hoài mà không mỏi mệt, và đi mãi mà chẳng chùn chân” (Is 40,29.31).
Bổn phận tưởng nhớ
Chính khi chiêm nghiệm về kiếp nhân sinh vắn vỏi, hồi ức về lời trăn trối của thánh nữ Mônica dành cho thánh Âu Tinh lại hiện lên như một lời cảnh tỉnh: “Các con có thể chôn xác mẹ ở đâu cũng được. Mẹ chỉ xin các con một điều là dù các con ở đâu, thì hãy nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa”[3]. Câu nói ấy khiến ta giật mình tự vấn về việc đôi khi đã sao lãng bổn phận cầu nguyện cho những người thân yêu quá cố. Cái chết vật lý kết thúc hành trình lữ thứ, nhưng không cắt đứt được tình thân trong đại gia đình Thiên Chúa. Cầu nguyện cho phần rỗi các linh hồn là hành vi tuyên xưng đức tin sắc son vào ơn cứu độ của Đức Kitô, vào sự “trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”.
Lịch sử Giáo hội chứng minh truyền thống này đã bén rễ từ rất sớm. Từ cộng đoàn Kitô hữu sơ khai với các danh sách ghi tên tưởng nhớ tách biệt, cho đến thế kỷ VI tại những đan viện Biển Đức có hẳn những nghi lễ dành riêng cho người qua đời. Qua thời thánh Isiđôrô (Tây Ban Nha) và thánh Ôđilô, người đã chọn ngày mùng 2 tháng 11 liền kề Lễ Các Thánh làm ngày cầu nguyện cho các tín hữu, thực hành này càng trở nên hệ trọng. Cội nguồn của nó thậm chí xuất phát từ thời Cựu Ước, khi tướng Giuđa Macabê quyên góp tiền dâng lễ đền tội cho những tử sĩ vì đức tin mãnh liệt rằng họ sẽ được chỗi dậy. Trong Tân Ước, Thánh Phaolô cũng tha thiết cầu nguyện cho cộng tác viên Ônêsiphôrô, minh chứng tính liên tục của tập tục này trong lịch sử Hội thánh.
Cầu nguyện cho người đã khuất là một sự tất yếu dựa trên ba nền tảng cốt lõi. Trước hết, có nhiều linh hồn chết trong ơn nghĩa với Chúa nhưng vẫn đang chịu sự thanh luyện. Giáo lý dạy rằng: “Những người chết trong ân sủng và tình thân nghĩa của Thiên Chúa, nhưng chưa được thanh luyện hoàn toàn, thì tuy họ chắc chắn sẽ được cứu độ muôn đời, họ còn phải chịu thanh luyện sau khi chết...”[4]. Luyện ngục không phải là chốn luận phạt khắc nghiệt, mà là nơi diễn tả tình thương vô biên của Thiên Chúa, Đấng khao khát tẩy rửa con người để họ đạt đến sự thông hiệp trọn vẹn. Lòng thương xót của Chúa luôn lớn hơn sự phán xét công minh, và sự chuyển cầu của người sống sẽ giúp các linh hồn mau chóng đạt đến sự thánh thiện vẹn toàn[5].
Thứ đến, các linh hồn không thể tự cầu nguyện cho mình. Hình ảnh âm ti (Sheol) trong Cựu Ước mô tả một trạng thái trì trệ, tăm tối, nơi con người bị tước đoạt sinh khí do Thiên Chúa đã lấy lại hơi thở làm cho con người sống[6]. Thánh vịnh 88 vang lên khúc ai ca của một tâm hồn ngập chìm trong mồ mả, cô đơn trong bóng tối[7]. Vua Khítkigia cũng than thở: “Trong chốn tử vong, không người ca tụng Chúa... Kẻ xuống mồ cũng dứt niềm trông cậy” (Is 38,18). Thánh Tôma Aquinô khẳng định, xét về sự đau khổ đang gánh chịu, những kẻ ở trong luyện ngục hoàn toàn nằm ở trạng thái dưới chúng ta, họ bất lực để chuyển cầu cho mình và do đó, đúng hơn là chúng ta phải cầu nguyện cho họ[8].
Sau cùng, ta thấy bản chất của Hội thánh là sự hiệp thông. Thánh Âu Tinh tuyên bố mạnh mẽ rằng linh hồn của những người hiếu trung không bao giờ bị tách rời khỏi Hội thánh của Thiên Chúa, vì vậy những việc lành của người sống chắc chắn hữu ích với những người đã qua đời[9]. Mầu nhiệm “các thánh thông công” liên kết Hội Thánh lữ hành, Hội Thánh vinh thắng và Hội Thánh đau khổ (thanh luyện) thành một thân thể duy nhất. Khi chúng ta hiệp thông tương trợ lẫn nhau bằng đức mến hỗ tương, chúng ta thực sự sống phù hợp với ơn gọi thâm sâu của Hội Thánh[10].
Sống trọn vẹn thân phận hữu hạn
Đứng trước sự thật về cái chết, con người không được phép trốn tránh hay rơi vào tuyệt vọng. Nhận thức mình là tro bụi phải là động lực mạnh mẽ để chuẩn bị cho một cuộc sống mai sau bằng chính những bước chân hiện tại. Cuộc sống trần thế vốn mang tính giới hạn, nhưng khi chúng ta để cho tâm hồn mình bước vào thế giới của tình thương yêu, hay nói cách khác là nhận lãnh một món nợ nghĩa tình, tức là chúng ta sẽ không còn chỉ sống cho riêng mình nữa. Cảm thức biết ơn và mắc nợ nghĩa tình với cha mẹ, tha nhân, và Thiên Chúa biến đổi sự tồn tại hữu hạn thành một hành trình hiến thân trọn vẹn, mở ra khả năng bước vào sự giao cảm thiêng liêng nhất của tình người. Những hành động bác ái nhỏ bé trong đời sống thường nhật dẫu có vẻ phù du hay đơn điệu, thực chất lại là những con đường thông thoáng nhất để vươn tới tha nhân và đạt được sự hoàn thiện. Hãy sống trên đời bằng thái độ chân thành, nhẫn nại và lương thiện. Mọi quyền lực, tài sản hay địa vị xã hội đều sẽ bị cát bụi xóa nhòa, điều duy nhất tồn tại mãi mãi là tình yêu thương. Phục vụ anh em, đặc biệt là những người khốn cùng và đau khổ nhất, chính là phương thế trực tiếp nhất để yêu mến và phục vụ Thiên Chúa. Lòng thương xót của Thiên Chúa luôn chờ đợi để được nối dài qua đôi tay trần thế của chúng ta.
Thiên Chúa luôn yêu thương và kiên nhẫn đối với những yếu đuối, mỏng giòn của con cái Ngài. Lịch sử cứu độ minh chứng rằng ân sủng của Ngài không ngừng tuôn đổ để nâng đỡ thân phận cát bụi. Bằng những lời cầu nguyện, sự hy sinh và những việc làm bác ái dâng lên cho các linh hồn, chúng ta nuôi dưỡng niềm xác tín rằng Hội thánh thanh luyện sẽ sớm được hưởng Nhan Thánh Chúa, và các ngài từ vương quốc vĩnh hằng cũng sẽ cầu thay nguyện giúp cho chúng ta. Xin Chúa soi sáng tâm trí để ý thức mình là hữu hạn, chúng ta không chìm trong nỗi sầu muộn mà luôn biết vươn mình, thể hiện lối sống bác ái theo đúng Lời Chúa dạy. Nay còn mai mất nơi trần gian này không phải là dấu chấm hết, mà là ngưỡng cửa để bước vào sự vĩnh cửu.
Đức Hữu
[1] Đức Thánh Cha Phanxicô, Thông điệp Spe Salvi, số 3; 7.
[2] x. Đức Thánh Cha Phanxicô, Sứ điệp Mùa Chay năm 2022.
[3] Thánh Augustinô, Tự thuật (Confessiones), Quyển IX, Chương 11.
[4] Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo, Bản dịch của Ủy ban Giáo lý Đức tin trực thuộc HĐGMVN, số 1030.
[5] Tông Huấn Giáo Lý Ân Xá, (Indulgentiarum Doctrina), số 3
[6] x. Sự Chết Đối Với Các Tổ Phụ, Để làm giàu kiến thức kinh thánh (Hà Nội: Tôn Giáo, 2012), tr.127
[7] Kinh Thánh Tân Ước và Cựu Ước, Bản dịch của Nhóm Phiên dịch Các Giờ Kinh Phụng Vụ. (Tham chiếu các đoạn Tv 88 và Is 38,18; 1 Cr 3,15).
[8] Thánh Tôma Aquinô, Summa Theologiae II, q.83, a.11.
[9] Thánh Augustinô, Thành đô Thiên Chúa (De Civitate Dei), Quyển XX, Chương 9.
[10] Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (GLCG), các số 947, 958, 959.
Copyright © 2021 Bản quyền thuộc về Giáo Phận Thái Bình
Đang online: 229 | Tổng lượt truy cập: 12,718,026