BÀI 19
CHÂN DUNG NGƯỜI MÔN ĐỆ NƯỚC TRỜI
(Mt 19,1-30)
Câu 1: Khi mấy người Pha-ri-sêu muốn hỏi thử Đức Giê-su: “Thưa Thầy, có được phép rẫy vợ mình vì bất cứ lý do nào không?” (Mt 19,1-3), Người trả lời thế nào?
Thưa: 4Người đáp: “Các ông không đọc thấy điều này sao: ‘Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hoá đã làm ra con người có nam có nữ’, 5và Người đã phán: ‘Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt.’ 6Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy, sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly.” (Mt 19,4-6)
Câu 2: Đức Giêsu có ý gì khi nói điều đó?
Thưa: Bằng cách dẫn và tái diễn giải hai đoạn Kinh Thánh từ sách Sáng thế (St 1,27; 2,24), Đức Giê-su đặt hôn nhân vào trung tâm ý định sáng tạo của Thiên Chúa. Thứ nhất, hôn nhân không phải là thể chế xã hội hay khế ước nhân loại, mà là hành vi sáng tạo trực tiếp của Thiên Chúa. Thứ hai, cụm từ “Thiên Chúa đã phối hợp” (Mt 19,6) nhấn mạnh sự kết hợp chặt chẽ, không thể tách rời do chính Thiên Chúa thực hiện. Vì thế, hôn nhân mang tính thần linh và vượt trên mọi quy định của con người.
Câu 3: Khi họ thưa với Người: “Thế sao ông Mô-sê lại truyền dạy cấp giấy ly dị mà rẫy vợ?” 8Người nói sao?
Thưa: Người bảo họ: “Vì các ông lòng chai dạ đá, nên ông Mô-sê đã cho phép các ông rẫy vợ, chứ thuở ban đầu, không có thế đâu. 9Tôi nói cho các ông biết: Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác là phạm tội ngoại tình.” Người có ý nói rằng vì sự cứng lòng của họ nên Mô-sê đã nhượng bộ tạm thời nhằm hạn chế hậu quả xấu hơn. Đức Giê-su đã đưa hôn nhân trở về trật tự nguyên thủy.
Câu 4: Khi các môn đệ thưa: “Nếu làm chồng mà phải như thế đối với vợ, thì thà đừng lấy vợ còn hơn.” Đức Giêsu đã nói gì?
Thưa: Người nói với các ông: “Không phải ai cũng hiểu được câu nói ấy, nhưng chỉ những ai được Thiên Chúa cho hiểu mới hiểu. 12Quả vậy, có những người không kết hôn vì từ khi lọt lòng mẹ, họ đã không có khả năng; có những người không thể kết hôn vì bị người ta hoạn; lại có những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời. Ai hiểu được thì hiểu.”
Câu 5: Những người tự ý không kết hôn vì Nước Trời là những ai? (19,10-12)
Thưa: Đó là những người sống đời sống thánh hiến và ơn gọi độc thân vì Nước Trời. Khiết tịnh không hạ thấp hôn nhân, vì cả hôn nhân và khiết tịnh đều đến từ Thiên Chúa. Khiết tịnh tự nguyện là dấu chỉ tiên tri về hoàn tất cánh chung, khi Thiên Chúa sẽ là tất cả. Những người sống khiết tịnh chứng tỏ rằng Nước Trời đáng giá hơn mọi liên hệ thế gian và sống trọn vẹn trong hiệp thông với Chúa Giê-su.
Câu 6: Khi các môn đệ la rầy trẻ em, Đức Giêsu phản ứng thế nào? (Mt 19,13-16)
Thưa: Đức Giê-su nói: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vì Nước Trời là của những ai giống như chúng.” 15Người đặt tay trên chúng, rồi đi khỏi nơi đó (Mt 19,14-15).
Câu 7: Câu trên có ý nghĩa gì trong Tin Mừng Mát-thêu?
Thưa: Câu trên--giống như ở Mát-thêu 5,3, Mát-thêu 18–20, đặc biệt 18,4--làm nổi bật ý tưởng rằng: Nước Trời không phải là thành tựu của con người, không do sự khôn ngoan hay giàu có hay công lao của nhân loại, mà là hồng ânThiên Chúa ban cho những ai biết mình bé nhỏ, nghèo khó và dám phó thác trọn vẹn.
Câu 8: Câu chuyện giữa người thanh niên có nhiều của cải và Đức Giêsu diễn ra thế nào? (Mt 19,16-22)
Thưa: 16Bấy giờ có một người đến thưa Đức Giê-su rằng: “Thưa Thầy, tôi phải làm điều gì tốt để được hưởng sự sống đời đời?” 17Đức Giê-su đáp: “Sao anh hỏi tôi về điều tốt? Chỉ có một Đấng tốt lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống, thì hãy giữ các điều răn.” 18Người ấy hỏi: “Điều răn nào?” Đức Giê-suđáp: “Ngươi không được giết người. Ngươi không được ngoại tình. Ngươi không được trộm cắp. Ngươi không được làm chứng gian. 19Ngươi phải thờ cha kính mẹ”, và “Ngươi phải yêu đồng loại như yêu chính mình.” 20Người thanh niên ấy nói: “Tất cả những điều đó, tôi đã tuân giữ, tôi còn thiếu điều gì nữa không?” 21Đức Giê-su đáp: “Nếu anh muốn nên hoàn thiện, thì hãy đi bán tài sản của anh và đem cho người nghèo, anh sẽ được một kho tàng trên trời. Rồi hãy đến theo tôi.” 22Nghe lời đó, người thanh niên buồn rầu bỏ đi, vì anh ta có nhiều của cải.
Câu 9: Câu chuyện trên cho chúng ta suy nghĩ gì?
Thưa: Người thanh niên giàu có, đạo đức, nhiệt thành giữ luật và đầy thiện chí đã đến với Chúa Giêsu trong hy vọng, nhưng lại rời đi trong nỗi buồn vì bị ràng buộc với của cải. Như vậy, Đức Giê-su đòi hỏi chúng ta không chỉ “giữ luật” mà phải theo Ngài với tất cả con tim, sẵn sàng từ bỏ mọi chướng ngại để đạt đến sự “hoàn thiện” – tức là nên giống Ngài, Đấng đã trở nên nghèo khó vì chúng ta (x. 2 Cr 8:9). Đây chính là con đường dẫn vào sự sống đời đời thực sự.
Câu 10: Sau đó, Đức Giêsu nói với các môn đệ điều gì? (Mt 19,23-26)
Thưa: Ngài nói: “Thầy bảo thật anh em, người giàu có khó vào Nước Trời. 24Thầy còn nói cho anh em biết : con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.” 25Nghe nói vậy, các môn đệ vô cùng sửng sốt và nói : “Thế thì ai có thể được cứu ?” 26Đức Giê-su nhìn thẳng vào các ông và nói : “Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được.”
Câu 11: Tại sao Đức Giêsu lại nói: “Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Thiên Chúa, thì mọi sự đều có thể được”?
Thưa: Một lần nữa, Đức Giêsu muốn nhấn mạnh rằng: Ơn cứu độ hoàn toàn do ân sủng của Thiên Chúa, không phải do thành tích của con người. Điều này lật ngược quan niệm phổ biến về công trạng. Đức Giê-su khẳng định: không ai có thể dùng công trạng để tự cứu mình; nhưng phải tuyệt đối tin tưởng, phó thác, cậy trông vào Thiên Chúa và làm theo lời Ngài dạy bảo thì mới được ơn cứu độ.
Câu 12: Đức Giêsu đã trả lời thế nào khi ông Phê-rô thưa Người: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy. Vậy chúng con sẽ được gì?” (19,27).
Thưa: 28Đức Giê-su đáp: “Thầy bảo thật anh em : anh em là những người đã theo Thầy, thì đến thời tái sinh, khi Con Người ngự toà vinh hiển, anh em cũng sẽ được ngự trên mười hai toà mà xét xử mười hai chi tộc Ít-ra-en. 29Và phàm ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái hay ruộng đất, vì danh Thầy, thì sẽ được gấp bội và còn được sự sống vĩnh cửu làm gia nghiệp.
Câu 13: Phải chăng trường hợp của ông Phêrô trái ngược với anh thanh niên giàu có ở trên?
Thưa: Đúng như vậy. Người thanh niên kia đã buồn rầu bỏ đi vì không thể xa của cải. Nhưng, ông Phêrô và các bạn thì đã bỏ mọi sự mà theo Chúa nên “đến thời tái sinh”, họ cũng được phần thưởng là được tôn vinh và cùng hiển trị với Chúa trong vinh quang. Không chỉ các tông đồ, mà bất cứ ai bỏ mọi sự mà theo Chúa cũng được thương ban sự sống vĩnh cửu (19,29).
Câu 14: Hãy giải nghĩa câu “Nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu” (19,30).
Thưa: Câu này là nội dung của nguyên tắc đảo ngược của Nước Trời: Thiên Chúa đánh giá theo tiêu chuẩn hoàn toàn khác với thế gian. Những người được coi là “đứng đầu” (giàu có, có địa vị, tuân giữ luật cách hình thức, tự mãn về công trạng) có nguy cơ rơi xuống hàng chót. Ngược lại, những người bị coi là “đứng chót” (nghèo khó, trẻ em, thu thuế, tội nhân, những ai từ bỏ tất cả) lại được nâng lên hàng đầu nhờ lòng khiêm nhường và sự phó thác.
Câu 15: Như vậy, sợi chỉ đỏ xuyên suốt chương 19 là gì?
Thưa: Mát-thêu 19 vẽ lên chân dung người môn đệ Nước Trời: sống hôn nhân trung tín (Mt 19,1-9) hoặc khiết tịnh vì Nước Trời (Mt 19:10-12), có tâm hồn trẻ thơ (Mt 19,13-15), nghèo khó thiêng liêng (Mt 19,16-26), sẵn sàng từ bỏ tất cả để theo Chúa (Mt 19,27-30). Tất cả quy về một chân lý: Nước Trời đáng giá hơn tất cả. Sự từ bỏ không phải là mất mát, mà là con đường dẫn đến phần thưởng phong phú hơn cả những gì con người hy sinh.
BAN GIÁO LÝ ĐỨC TIN GPTB
Copyright © 2021 Bản quyền thuộc về Giáo Phận Thái Bình
Đang online: 105 | Tổng lượt truy cập: 12,996,782